Thứ Ba, 06/04/2010 - 4:50 PM

Tấm gương lớn của “Ông nhỏ” Lý Tự Trọng

Tượng đài Lý Tự Trọng. Ảnh: Trang Dũng.

Nếu còn sống, người Anh hùng Lý Tự Trọng đã ngoài 90 tuổi. Nhưng trong tâm thức người đang sống, anh vẫn trẻ trung ở tuổi 17 đẹp tươi. Và như mới hôm nào, trên đường phố Sài Gòn, trong cuộc mít tinh kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào chiều ngày 8/2/1931, để bảo vệ cuộc diễn thuyết của chiến sĩ cách mạng Phan Bôi, Lý Tự Trọng lẫn trong dòng người, rút súng bắn chết tên mật thám Legrand.

Địch liên tục hỏi cung, đánh đập Lý Tự Trọng rất dã man, nhưng không hề khai thác được gì ở "Ông nhỏ". Một ngày cuối xuân, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng từ bót Catina đến tòa án để kết án anh tội tử hình. Trước vành móng ngựa, "Ông nhỏ" lên án bọn thống trị, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh.

Khi luật sư bào chữa, cho anh còn tuổi vị thành niên, đã "hành động không suy nghĩ", Lý Tự Trọng dõng dạc nói: "Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng, con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi". Bị tòa tuyên án tử hình, Lý Tự Trọng vẫn bình thản. Và khi tên thực dân cất tiếng hỏi "có ăn năn gì không", anh nhìn thẳng về phía trước, kiên định trả lời: "Không ăn năn gì cả!".

Trong xà lim án chém, anh đã sống những ngày lạc quan, vẫn tập thể dục, vẫn đọc Truyện Kiều... Những tên gác ngục, chủ khám khâm phục anh, gọi anh là "Ông nhỏ". Còn đối với các đồng chí, anh được gọi là "Trọng con" đầy tin yêu, trìu mến. Thực dân Pháp nhiều lần lung lạc, dụ dỗ "Trọng con", chỉ cần anh nói lời đầu hàng sẽ được thả, anh sẽ có được một cuộc sống giàu sang, êm ấm nhưng Lý Tự Trọng vẫn kiên quyết từ chối.

Bà André Violis lúc bấy giờ đến Sài Gòn, vào khám thăm Lý Tự Trọng, đã vô cùng kính phục người chiến sĩ Cộng sản nhỏ tuổi. Khi về Pháp, bà đã viết một loạt bài và cuốn sách “Indochine S.O.S” (Đông Dương cấp cứu!) trong đó vạch trần chính sách tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương và phản đối án tử hình đối với Lý Tự Trọng.

Nhờ sự dấn thân của bà mà hậu thế biết được phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: "Ngày 21/11/1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đường phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong bức tường giam của Khám lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu "Việt Nam! Việt Nam!".

Bởi người cộng sản trẻ tuổi ấy quá đỗi anh hùng, đẹp hơn huyền thoại mà tôi tự hỏi mình: "Tại sao một thiếu niên mới 17 tuổi mà cứng cỏi, bản lĩnh đến vậy. Anh đã được hun đúc như thế nào để nhìn thẳng vào mặt kẻ thù, nói những lời gang thép, trí tuệ như thế?".

Ngôi nhà 250 phố Văn Minh - Quảng Châu, Trụ sở tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội (xưa là số 13 phố Văn Minh) - Nơi Lý Tự Trọng sống, học tập, hoạt động cùng các anh chị hội viên.

Thật tình cờ, khi đến Quảng Châu tìm lại bóng dáng Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt - người phụ nữ Nam Bộ cải nam trang trốn xuống tàu, sang Quảng Châu học khóa huấn luyện chính trị năm 1926 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức, người con gái tiền phong, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng Hội Phụ nữ Giải phóng ở Nam Bộ, biết thêm những ngày Lý Tự Trọng ở Quảng Châu, tôi hoàn toàn hiểu được vì sao anh bản lĩnh, anh hùng đến vậy. 

Thật may mắn khi ở Quảng Châu, ngày nay vẫn còn ngôi nhà số 250 phố Văn Minh, (xưa là số 13) - trụ sở của Tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội (VNTNCMĐCH). Đó cũng là nơi tập trung rất nhiều nhà cách mạng tiền bối tài năng của Việt Nam, được Bác Hồ huấn luyện, đào tạo. Trên tường, tên những học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc được ghi trang trọng. Tôi đứng lặng trước căn phòng Bác Hồ từng lưu lại.

Trong phòng chỉ có chiếc giường gỗ đơn sơ, bàn làm việc với máy đánh chữ rất cổ. Tôi đi qua từng căn phòng trong nhà lưu niệm. Phòng học của học viên lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam có lẽ là căn phòng đẹp nhất. Nơi đây, các nhà cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Trần Diên Niên... từng đến dạy cho học viên Việt Nam. Đời sống học viên năm ấy rất gian khổ. Mỗi người chỉ có một chiếc chiếu cói, một cái chăn mỏng trải qua mùa đông khắc nghiệt ở Quảng Châu. Nhưng những tài liệu về nông dân, phụ nữ, thiếu niên... mà những nhà cách mạng năm ấy đã nghiên cứu, học hỏi vẫn còn lưu lại trên giá sách bằng mây.

Thật xúc động khi đứng trước căn phòng nhỏ, hẹp, đồ vật được bài trí đơn sơ những nơi là nơi phát tích tờ báo Thanh Niên - đặc san của Tổ chức VNTNCMĐCH. Chính tại căn phòng này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì việc biên tập, ấn loát, phát hành số báo đầu tiên. Người huấn luyện cho các học viên làm báo. Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt - một phụ nữ được giao phụ trách mục Phụ nữ. Bà đã viết những bài báo kêu gọi phụ nữ thức tỉnh, vững lòng đấu tranh cho độc lập tự do của Tổ quốc...

Cuộc sống của những hội viên VNTNCMĐCH năm ấy vô cùng khó khăn. Trên sân thượng tầng 3 ngôi nhà lưu niệm còn những hiện vật ghi dấu những ngày gian khổ năm xưa. Năm 1926, Trung Quốc còn dùng chậu đồng giặt quần áo. Vài cái bếp giống như "cà ràng" đặt trên sàn nhà. Trời mưa, phải có người che dù mới nấu cơm được. Nhưng những người đồng chí trên đất khách yêu thương nhau như ruột thịt.

Năm ấy, Lý Tự Trọng từ Thái Lan được đưa sang  học tập, hoạt động trong tổ chức đã từng ở cùng với Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, được đồng chí Lý Thụy (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) rất yêu thương. Tên Lý Tự Trọng là do Người đặt. Năm ấy, đồng chí Lý Thụy rất chú trọng công tác đào tạo khả năng diễn thuyết của các hội viên, tổ chức các lớp học. Hôm ấy có nhiều đồng chí lên diễn thuyết, mở đầu là Lâm Đức Thụ (Trương Béo), rồi Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lý Ứng Thuận, Quang - quân nhân trường Hoàng Phố... Tất cả đều diễn thuyết hay, mỗi người mỗi vẻ, rất thuyết phục. Tuy nhiên, với Bảo Lương, cách diễn thuyết của cậu bé Lý Tự Trọng vô cùng đặc biệt:

"Lúc Trọng lên diễn đàn, đối với các bạn mới ra chỉ là một việc "thêm thắt" cho vui, chớ chú bé 12 tuổi lùn tịt kia thì ăn thua gì với vấn đề trọng đại một cách hời hợt, nghĩa là do tổ chức điều khiển cho "có vị" để nói lên "đấy, thanh niên cũng có đủ các bộ quân nhơn, phụ nữ, thiếu nhi" thế thôi!”.

Nhưng Trọng quả là thần đồng trong tổ chức cách mạng thanh niên, xứng đáng là đại diện của thiếu nhi thời kháng Pháp vậy. Em cũng giống các bạn lớn, nghĩa là không có giấy, em hướng mặt cúi chào thính giả, cái bộ trịnh trọng chững chạc gây phần nào tin tưởng. Lý Tự Trọng nói: "Trách nhiệm thiếu nhi đối với cách mạng" đành rằng bài có nghiên cứu trước, chẳng khác ban hát tập tuồng, tuy thuộc làu, nhưng khi diễn phải có đặc tài riêng mới lột tả hết tinh thần ý nghĩa?”.

Trọng bảo: "Chúng em dù trong tuổi học hành, vẫn cố gắng làm các công tác theo sức mình, để bồi đắp, củng cố nền cách mạng. Xin các đồng chí tiến bước để chúng em theo, chúng em theo sát gót đàn anh dầu bé bỏng cũng nguyện hy sinh chống thực dân bảo toàn đất nước". Lời nói đó sau này mới chứng tỏ cho hào khí thiếu niên thời nước loạn.

Hiện bây giờ bé Trọng còn chút xíu trên diễn đàn kia, với hai tay, hai chân, đôi mắt, cái miệng, bộ tịch hào hùng hoạt bát pha một chút trẻ thơ đầy cảm động, diễn viên tí hon đã đóng trọn vẹn vai tuồng--PageBreak--.

Ở ngôi nhà số 13 phố Văn Minh, sau những khóa học, làm báo Thanh Niên, lúc rảnh rỗi, cậu bé Trọng cùng các chị đùa giỡn. Các chị rất cưng yêu Trọng. Bảo Lương nhận ra bé Trọng có những lúc trở nên rất người lớn, già dặn, lại rất tình cảm: "Trọng rủ tôi lên sân thượng tập thể thao thật sớm vì em và Thuận, Thông con còn phải kịp giờ đi học - lúc ngồi ngoài băng, mắt Trọng thoáng buồn, em nói: "Trọng nhớ một người... nếu người đó còn ở đây thì...". "Người đó là ai? Ba của Trọng hả?". "Người đó mang Trọng sang đây mà! Đó là đồng chí Vương, là Vương Sơn Nhi, là Nguyễn Ái Quốc”.

Tuy khôn ngoan, già dặn hơn những đứa trẻ cùng lứa nhưng Trọng cũng là một cậu bé con thích được âu yếm, chiều chuộng, nhất là lúc ốm  đau: "Chị Lương ơi! Ẵm Trọng!". Tôi dìu Trọng xuống cầu thang, trùm mền cho nó sau khi uống thuốc, ngồi bên Trọng lòng tôi buồn vô hạn! Cái tuổi của Trọng là tuổi chơi đá, thả diều, bên cha mẹ vòi quà nũng nịu khi váng mình sốt mẩy, ở với đoàn thể dầu sao cũng tương đối chừng mực thôi! Đức cũng săn sóc, chị Thụ cũng chích thuốc, Thuận cũng đút cháo, nhưng đó là bổn phận một cách khô khan. "Chị Lương ơi! Đỡ Trọng với!". Tôi ôm đỡ đầu nó lên vai, vừa ngồi yên thì nó thủ thỉ: "Có hào chỉ hôn chị Lương?". "Chi vậy?". "Xí muội nè, cánh chỉ, thị nè! Chị mua liền nhé!".

Thương Trọng thèm thị, Bảo Lương rất khổ tâm khi không còn tiền. Cho đến khi mùa đông đến, Bảo Lương không chịu nổi giá lạnh, rét buốt nơi đất khách, sốt cao, người ướt đẫm. Một bên ngực Bảo Lương bị sưng, phải đi mổ ở bệnh viện.  Tổ chức chỉ có đủ "hai hào chỉ" cho "Cậu nhỏ" đưa chị Bảo Lương đi chữa bệnh.

Biết Lý Tự Trọng rất mê ăn trái thị, Bảo Lương đã nghĩ ra cách lúc trời còn mát hai chị em sẽ đi bộ đến bệnh viện. Bảo Lương dành số tiền đi xe mua trái thị cho "Cậu nhỏ". Và đây là hồi ức đầy cảm động của bà: "Khi lên xe là có thị cho Trọng cầm, mà tại sao nó chưa chịu cắn nhai dòn như mỗi lần vô lớp? Tôi ngó lên thấy vẻ suy tư trong mắt nó, tôi giục: "Ăn đi". "Trọng không ăn thị nữa... Chị Lương ăn thị đi, thị bổ lắm. Ăn cho có sức mà chịu đựng, chứ mổ đau lắm, mà hễ chết là đói bụng và thèm thị! "Không. Chị không ăn, cho em hết đó!". "Chị Lương không ăn hả? Trọng không ăn luôn và Trọng buồn! Phải chi đừng mua để chị đừng đi bộ! Trọn năm ngày đi nhà thương băng bó, là năm ngày hồi hộp khổ tâm! Vì Trọng luôn luôn lên diễn đàn lưu động, tôi ngồi chờ ở băng sau mà nóng nảy bồn chồn. Nghe tiếng Trọng càng hùng hồn tôi càng lo sợ tiếng súng sát nhơn bùng nổ. Và xiết bao mừng rỡ khi bé chạy ùa lại nắm tay tôi dìu đi. Tôi muốn biểu Trọng đừng nói, mà mở miệng chẳng ra lời...".

Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt - Người hội viên từng chăm sóc, yêu thương Lý Tự Trọng khi "Ông nhỏ" ốm đau. Ảnh: Tư liệu Bảo tàng PNNB.

Nỗi lo sợ của Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt về sự an nguy của Lý Tự Trọng đã diễn ra vào buổi chiều mùa xuân năm 1931: "Quả vậy, khi bé được 16 tuổi về nước, làm cách mạng, bước đầu đã nổ súng làm chết cò thực dân tên Legrand, lúc bị bắt đến khi lên "đoạn đầu đài", Pháp đành bó tay trước sự gan lỳ của Trọng; không có cực hình nào mà thực dân không dùng để biết thêm người trong tổ chức, nhưng vô hiệu! Vì Trọng đáp lời của Pháp: "Tôi làm cách mạng cho tôi! Với tôi! Và tôi bảo giết tên hại nước hại dân tôi".

Bản thân Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, năm 1928, từ Quảng Châu trở về nước trên một chuyến  tàu bí mật. Bà dấn thân vào công tác vận động xây dựng Hội Phụ nữ Giải phóng tại Nam Bộ, rồi sa vào tay địch trong vụ án ở đường Barbier (năm 1954 đổi tên đường Lý Trần Quán nay là Thạch Thị Thanh), bị kêu án 10 năm tù.

Trong  khám lạnh, bà càng thương nhớ Lý Tự Trọng, nhớ mùa đông rét buốt ở Quảng Châu, sau cuộc diễn thuyết lưu động, Trọng chạy ùa đến nắm tay chị đi trên đường phố, nhớ trái thị thơm mát chị nhường cho em. Bảo Lương tự nhủ phải kiên cường đối mặt với những ngón đòn tra tấn dã man, xứng đáng với "bé Trọng" anh hùng. Những bài thơ đầy khí phách của Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt vượt qua song sắt nhà giam, được nhiều người truyền tụng:

"Nước mất nhà tan gánh nợ chung
Có ta, ta quyết ghé vai cùng
Liễu bồ cũng đứng trong trời đất
Vàng đá ghi bền với núi sông
Chân yếu, tay mềm tuy sức gái
Gan bền, chí vững ấy đàn ông
Quốc thù chưa trả, ta chưa chết
Gươm ấy là con, súng ấy chồng"

Trầm Hương
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"