Chủ Nhật, 10/04/2011 - 3:30 PM

Phòng tránh phóng xạ hạt nhân như thế nào?

Trong khi những đám mây phóng xạ từ Nhà máy điện hạt nhân Fukushima (Nhật Bản) vẫn đang được cộng đồng khoa học thế giới tranh luận, thì đối diện với thảm họa này, nhiều câu hỏi được đặt ra. Làm thế nào để đề phòng phóng xạ? Khi biết bị nhiễm xạ, có cách gì chẩn đoán và những bệnh nặng do nhiễm xạ gây ra được điều trị như thế nào?

Ngày 23/3, Viện Nghiên cứu không khí Na Uy dự báo khối khí từ các nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima có khả năng về tới vùng biển phía nam của Việt Nam vào ngày 25/3. Tuy nhiên, Tổ Công tác xử lý thông tin sự cố Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I của Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam tối ngày 21/3 cho biết, đám mây phóng xạ phát tán rộng đến 3 vùng: Đông Nam Á, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Đặc biệt, trên biển Thái Bình Dương, đám mây ngày càng lan rộng thêm xuống phía nam. Dự kiến ngày 22/3 chạm đến vùng đông bắc quần đảo Philippines nhưng khó ảnh hưởng đến Việt Nam.

Ông Đặng Thanh Lương, Phó cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cho hay: Nếu sau này chúng ta phát hiện thấy dấu hiệu của phóng xạ thì nó đã "yếu" đi rất nhiều, ở mức an toàn. "Mức phóng xạ còn thấp hơn việc chúng ta chụp X-quang, nên không gây nguy hại đến sức khỏe" - nhà khoa học này cho biết thêm.

Trong một diễn biến khác, ngày 24/3, một quan chức của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) khẳng định: Sự cố rò rỉ phóng xạ ở Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I không hình thành bất cứ đám mây phóng xạ nào hết. Người này cho biết sự cố ở Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I không giống như những gì xảy ra tại Nhà máy điện Chernobyl ở Ukraina năm 1986. Lượng phóng xạ thoát ra từ Fukushima I thì thoát lên tầng khí quyển thấp chứ không thể bay lên cao và hình thành những đám mây như các phương tiện truyền thông quốc tế vẫn đưa trong những ngày qua.

Mây phóng xạ phát tán từ Fukushima I sẽ không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Tình trạng rò rỉ phóng xạ hiện nay tại Nhà máy điện hạt nhân Fukushima I, Nhật Bản đang dần được kiểm soát, tuy nhiên những tác động của nó tới các nước láng giềng thì vẫn là điều gây tranh cãi trong giới khoa học và truyền thông. Như vậy xem ra việc tìm hiểu những thông tin khoa học về việc nhiễm phóng xạ và các phương pháp phòng tránh, phát hiện bị nhiễm xạ và điều trị vào lúc này là cần thiết và bổ ích.

Phòng ngừa phóng xạ

Về các phương pháp phòng ngừa phóng xạ, theo các chuyên gia, trước hết phải nhận biết 3 trạng thái ảnh hưởng khác nhau. Trạng thái thứ nhất là phơi nhiễm, tức là tác động của tia xạ trực tiếp đến những người có mặt tại khu vực gần nguồn phát xạ. Trạng thái thứ hai là nhiễm xạ bên ngoài, tức là việc các bụi phóng xạ tỏa vào không khí và rơi lên người, đầu tóc, quần áo, da, trên mặt đất, nhà cửa và cây cối. Trạng thái thứ ba là nhiễm xạ bên trong.

Hai biện pháp đầu tiên được các chuyên gia chú ý đến là tìm chỗ trú ẩn trước nguy cơ bụi phóng xạ, đóng cửa, sơ tán ra khỏi khu vực phát xạ khoảng 10km và tránh tiêu thụ các thức ăn bị nhiễm xạ.

Theo Giáo sư Martin Schlumberger, phụ trách Khoa Y học Hạt nhân, Viện Gustave Roussy (Pháp), cần chú ý đến một biện pháp thứ ba: Biện pháp thứ ba là uống những viên muối iod trị liệu (hay gọi tên khoa học là iodure de potassium/potassium iodide), điều này có nghĩa là đưa vào người một lượng lớn iod, nhưng đây là loại iod ổn định, chứ không phải là iod phóng xạ. Lượng iod này giúp cho cơ thể bão hòa về iod, đặc biệt là không cho tuyến giáp hút lượng iod phóng xạ, và nhờ đó mà tránh cho tuyến giáp bị nhiễm xạ. Phương pháp này hết sức có hiệu quả.

Trên thực tế, người ta đã giảm được đến hơn 95% nguy cơ tuyến giáp nhiễm xạ. Biện pháp này có tác dụng, với hai điều kiện, thứ nhất là phải dùng đủ liều muối iode, và thứ hai là dùng đúng lúc, tức là ít nhất một tiếng đồng hồ trước khi bị nhiễm xạ. Chính vì vậy, sau khi xảy ra vụ Chernobyl, để ngăn ngừa phóng xạ, người ta đã cấp những viên thuốc này cho cư dân sống trong vòng bán kính 10km của nhà máy điện hạt nhân có sự cố".

Giáo sư Schlumberger cũng đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc dùng iod trị liệu đúng lúc, cũng có nghĩa là người sử dụng không nên tự ý dùng viên thuốc này: "Về sự di chuyển của iod phóng xạ, các cơ quan chuyên môn có thể dự đoán nơi chúng đi tới và đo lường được hàm lượng của chúng trong bầu không khí. Và các cơ quan chuyên môn có thể quyết định, có nên dùng thuốc này hay không. Muối iod trị liệu có tác dụng tối đa nếu dùng 1 giờ trước khi nhiễm xạ, và hiệu quả của nó chỉ kéo dài từ 2 đến 3 ngày. Sau thời gian đó, việc uống iod này không còn tác dụng nữa".

Cũng theo Giáo sư Schlumberger, đối tượng cần phải quan tâm trước hết đối với nguy cơ nhiễm xạ tuyến giáp là trẻ em, chứ không là tất cả mọi người nói chung: "Việc dẫn đến ung thư tuyến giáp do bị nhiễm iod phóng xạ là một hiện tượng gặp nhiều ở trẻ em. Với lứa tuổi từ 15 đến 20 tuổi trở lên, các nghiên cứu cho thấy nguy cơ bị nhiễm xạ tuyến giáp là gần như bằng không".

Phát ngôn viên WHO nói: “Chỉ nên dùng potassium iodide khi có lời khuyên rõ ràng của giới chức y tế công cộng”.

Các biện pháp chẩn đoán mức độ nhiễm xạ

Đối với các trường hợp bị nhiễm xạ bên trong, tức là việc một người hít phải bụi phóng xạ hay bị nuốt phải các thức ăn hay đồ uống bị nhiễm xạ, các hạt bụi phóng xạ xâm nhập vào cơ thể, việc hít hay nuốt các chất phóng xạ với liều cao có khả năng gây ung thư sau này. Làm thế nào để đánh giá được các mức độ ảnh hưởng của nhiễm xạ bên trong đến sức khỏe?

Giáo sư Schumberger cho biết: "Tất nhiên để chẩn đoán được thì phải đo lường. Khi một người bị nghi là nhiễm xạ. Chúng ta có thể đo lường với các máy đo, để xem cơ thể chứa bao nhiêu chất phóng xạ, trong tuyến giáp, cũng như trên toàn bộ phần còn lại của cơ thể. Và chúng ta cũng phải đo cả lượng phóng xạ trong nước tiểu, vì nước tiểu là nơi thoát ra chủ yếu của các chất phóng xạ, như iod phóng xạ, cũng như các chất khác như cesium. Như vậy, sau các đo lường ấy, người ta có thể tính toán được liều lượng chất phóng xạ trong từng cơ quan nội tạng, và dự đoán các nguy cơ của từng cơ quan, tùy theo mức độ nhiễm xạ của các cơ quan này".

Bên cạnh phóng xạ iod và cesium, chuyên gia nhiễm độc phóng xạ Roland Masse, nguyên Chủ tịch của Tổ chức phòng chống phóng xạ Pháp, cũng lưu ý thêm đến tác động của các khí hiếm: "Trong các yếu tố có thể gây nguy hiểm, phải kể đến những khí hiếm, những khí này không xâm nhập vào các bộ phận bên trong cơ thể, nhưng có thể gây nhiễm xạ bên ngoài nguy hiểm. Biện pháp duy nhất để kiểm soát trong trường hợp này là theo dõi qua các kết quả xét nghiệm sinh học".

Phương thức điều trị các tai biến phóng xạ nặng nhất

Đối với những người bị nhiễm xạ nặng, có khả năng hệ thống phụ trách việc sản sinh các tế bào máu, đặc biệt là tủy xương, bị ảnh hưởng nghiêm trọng, những bệnh ung thư thể lỏng sẽ phát triển, ví dụ như bệnh ung thư máu. Cuối cùng, một liều lượng phóng xạ cao sẽ có thể dẫn đến bệnh suy tủy.

Về các thể bệnh nghiêm trọng này, Giáo sư Edgardo D. Carosella, Trưởng Khoa Nghiên cứu miễn dịch huyết học thuộc Bệnh viện Saint-Louis (Pháp), cho biết: "Để điều trị, trước hết phải theo dõi lâm sàng. Trong chuyên ngành của tôi, cần phải theo dõi người có nguy cơ mắc bệnh trong nhiều năm, để xem xem sự biến đổi trong cơ thể người đó có dẫn đến chỗ sinh ra các khối u lỏng hay không? Cũng có nghĩa là không phải cứ bị nhiễm xạ là khối u sẽ xuất hiện. Tiếp theo đó, đặc biệt phải chú ý những trường hợp nặng, có hoại tử tủy hay tế bào..., đó là những trường hợp bị nhiễm xạ liều rất cao, vượt quá 1.000 mSv.

Nếu như bị hoại tử, có 3 khả năng: thứ nhất là ghép tủy, thứ hai là chờ đợi và theo dõi chặt chẽ xem tủy của bệnh nhân có thể tự hồi phục được hay không, và thứ ba là đưa tế bào gốc vào bộ phận phụ trách việc sản sinh tế bào máu, cụ thể ở đây là tủy xương, với sự trợ giúp của các phân tử điều hòa các chức năng của từng tế bào riêng biệt và của cả các bộ phận trong cơ thể trong trường hợp khỏe mạnh cũng như bệnh lý.

Áp dụng biện pháp nào, vấn đề này đã từng được tranh luận rất nhiều vào năm 1992, giữa chủ trương ghép tủy, đưa tế bào gốc vào qua trung gian của các cytokine, hay chờ đợi cơ thể tự hồi phục? Gần đây, ngành y trong lĩnh vực này đã có bước tiến. Thí nghiệm trên những con chuột bị nhiễm xạ cho thấy đôi khi chỉ cần 5 tế bào gốc, là có thể phục hồi lại được toàn bộ tủy xương. Như vậy, không nên quá vội vã, vì ghép tủy thường là lựa chọn cuối cùng. Đây là một công việc phức tạp, không phải là không có nguy cơ. Trước khi quyết định phải xem xét kỹ. Trong lĩnh vực này, một kỹ thuật mới đang được ứng dụng là đưa tế bào gốc trung mô để giúp cho cơ thể tái khởi động nhằm hỗ trợ tủy tự hồi phục và đồng thời giúp vào quá trình ghép tủy.

Tiếp theo vấn đề chăm sóc người bị hoại tử là vấn đề bỏng. Đây là một tổn thương rất nghiêm trọng, hết sức đau đớn. Tại Bệnh viện quân đội Pháp Percy, đã có những kinh nghiệm làm việc với các tế bào gốc trung mô, cho phép tủy tự hồi phục và đồng thời giúp vào quá trình ghép tủy. Như vậy, chúng ta có đủ các phương tiện, để phối hợp và bình tĩnh quan sát, trước khi quyết định lựa chọn hướng điều trị nào. Bởi vì, các biện pháp kể trên, mà chúng ta có trong tay, một khi đã sử dụng rồi, thì không thể thay đổi được nữa

Giang khuê - Hà Ninh (tổng hợp)
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"