Thứ Tư, 09/10/2013 - 4:45 PM

“Nỗi buồn tốc ký” hay niềm thơ nao nức tuổi xế chiều

(Vài suy nghĩ về bộ thơ hai tập "Nỗi buồn tốc ký" của nhà thơ Hồng Thanh Quang, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn 2013)

Qua cái tuổi tri thiên mệnh được một năm, nhà thơ Hồng Thanh Quang gom góp, chọn lọc một phần đáng kể từ hành trình thơ trên dưới 30 năm của mình để làm thành bộ thơ hai tập dày tới gần 900 trang, với cái nhan đề không hề vô ý: “Nỗi buồn tốc ký”.

Nỗi buồn, thì đã hẳn. Vì từ trong căn cốt của giống loài thi sĩ tự cổ chí kim, niềm vui vốn là thứ vật liệu không mấy khi gợi được hứng cho thơ. Nhưng tại sao lại tốc ký? Tốc ký là ghi nhanh, ghi ngay, chạy đua với thời gian. Vì sợ không ghi sẽ không kịp. Vì sợ để lâu có lẽ sẽ quên điều cần phải nhớ. Vậy là, với hành vi tốc ký nỗi buồn, có thể nói, Hồng Thanh Quang đã lập lờ hé lộ hai vết hằn trong tâm thức: Sự trân trọng nỗi buồn và sự sợ hãi chứng quên. Hai vết hằn ấy - nói cho đúng, hai mà là một, vì sợ quên ở đây cũng chính là sợ quên nỗi buồn - theo tôi, là dấu hiệu của một niềm thơ nao nức tuổi xế chiều.

Thường thì, ở tuổi xế chiều, khi đã nếm khá đủ các vị ngọt ngào và đắng đót của chén đời, khi đã bắt đầu nghe tiếng thời gian nhỏ giọt hối thúc, khi đã cảm nhận được sức nặng của "khói sương dần phủ trên đầu", con người ta ắt sẽ nghĩ nhiều đến cái gọi là sự tồn tại nối dài của mình trong mai hậu. Nó được cụ thể hóa, gần gặn nhất, ở lời dặn dò tới những đứa con, hoặc ở sự suy tư về/ trước những đứa con. Nhiều người hẳn còn nhớ bài “Xuân nhật thị chư nhi” nổi tiếng của thi hào Nguyễn Khuyến. Trong văn bản rõ là một bức chúc thư ấy, cụ Tam nguyên Yên Đổ đã cắt đặt mọi việc cho con cái trong nhà, rằng phải làm sao, làm sao khi cụ qua đời, rất rành rẽ, chắc nịch.

Hồng Thanh Quang không phải nhà Nho, nên viết cho con, viết về con, anh không thể có được cái giọng khủng khỉnh trưởng thượng dội từ trên xuống như thế. Trái lại, anh thủ thỉ, như muốn chia sẻ, như thể tự nói với chính mình qua nếp gấp thời gian. Đây là tiếng lòng của người cha khi cùng đứa con trai 5 tuổi đi bộ đón giao thừa: “Hai cha con mà quá đủ đầy/ Hai cha con mà vô cùng thiếu vắng/ Tôi cười cho con vui nhưng thấy lòng cay đắng/ Trước líu lô ngộ nghĩnh giọng con mình/ Phút thiên nhiên chuyển mùa pháo hoa sáng trời xuân/ Những rực rỡ tan nhanh còn lại là bóng tối/ Tôi dắt tay con thấy nhịp tim hóa vội/ Tôi sẽ kịp làm gì cho đỡ nhọc đời con” (Khai bút xuân Ất Dậu). Và đây, khi nhà thơ “Viết cho con gái Linh Vân”: “Cha bế con lên nhẹ như nghĩa vụ/ Nặng cũng như nghĩa vụ/ Con còn chưa nhận ra cha/ Chưa biết nhìn/ Chưa biết cảm/ Chưa biết u ơ/ Đôi môi nhỏ xinh như hai cánh hoa hồng chiêm chiếp/ Cha ngắm con hoài không chán/ Thêm cảm thấy mình có lỗi/ Trước mọi người phụ nữ đang sống ở trần gian”.

Chẳng có mấy người cha, khi bế đứa con gái bé nhỏ của mình trên tay và nhìn ngắm nó, lại có những suy nghĩ kiểu này. Nhưng điều chắc chắn, người cha có thể nói những lời như thế phải là người cha đã trải qua bao cơn ấm lạnh, bao nỗi đoạn trường, bao ký ức buồn được xây đắp từ những mảnh vỡ tình.

"Thêm thấy mình có lỗi trước mọi người phụ nữ đang sống ở trần gian" - có thể, đó chỉ là cách nói quá lên… theo kiểu thơ. Nhưng hơn một, thì cũng đã là số nhiều. Mà với Hồng Thanh Quang, dường như anh coi tất cả những ký ức buồn ấy chính là tài sản của mình, là niềm an ủi của cuộc đời mình. Vậy nên, cho dẫu có lúc anh lên dây cót tinh thần, cố dùng lý trí để tẩy trắng ký ức, thì ký ức vẫn cứ thản nhiên tồn tại theo cách của nó, đủ để nhà thơ hiểu rằng không có cái gì bị mất đi khi đã một lần xuất hiện, nữa là những người đàn bà từng đi qua cuộc đời.

Hồng Thanh Quang có một bài thơ đặt tên là “Quên”, nhưng thực ra lại là cách khác để nói về nhớ: “Quên số điện thoại trước/ Rồi môi và mắt em/ Quên cả sự bình yên/ Trong vòng ôm giông bão/ Đi lướt qua đời nhau/ Nhanh như không có thực/ Mệt như là kiệt sức/ Trái tim gầy nín thinh/ Quên hết mọi nét xinh/ Quên hoàn toàn cái dở/ Thảng hoặc ngồi chợt nhớ/ Ngón tay buồn duỗi ra/ Quên để nguôi xót xa/ Quên để thôi tội lỗi/ Nửa đêm nào buột gọi/ Thấy đời dâng sóng lên”. Hoặc một bài khác, có vẻ như bâng quơ, nhưng với cách "làm chữ" khá tinh tế, cảm giác nhớ lại trở nên đọng và da diết hơn: “Những khúc loa kèn vang sáng phố/ Hạ mới ươm vàng, nắng chớm duyên/ Sắp rồi đỏ phượng, run gió nhớ/ Ai đã yêu mình trong cõi quên” (Những khúc loa kèn vang sáng phố).--PageBreak--

"Ai" có thể là những ai ai? Đặt ra câu hỏi này và tìm lời giải đáp trong “Nỗi buồn tốc ký”, ta sẽ thấy sự hiện diện của khá nhiều chân dung đàn bà (hay chỉ một người đàn bà nhưng ở nhiều thời điểm, trong nhiều khoảnh khắc khác nhau của lịch sử những mảnh vỡ?). Người đàn bà trong “Khúc mùa thu”: “Tôi đã yêu như chết là hạnh phúc/ Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em/ Người - đàn - bà - giấu - đêm - vào - trong - tóc/ Còn điều chi em mải miết đi tìm”. Người đàn bà trong “Cuối con đường sẽ không ai đợi ta”: “Tôi trở về nơi đã khép vầng trăng/ Như chưa sống, chưa yêu, chưa hát/ Người đàn bà ngực trần bỏng rát/ Tuổi trẻ tôi, em giấu đâu rồi?”.

Những người đàn bà trong đêm của “Đêm lãng du”: “Những người đàn bà trong đêm/ Tôi thấy/ Gánh nỗi buồn đi về phía bình minh/ Thập thững bước chân bầu sáng hạ tuần/ Dáng mảnh mai/ Vai trĩu nặng/ Như thể mọi tội lỗi nhân gian đều đè lên họ/ Đôi mắt họ sẫm tối/ Thật khó khăn mới nhìn ra sóng biển/ Mấy nghìn năm một tiếng gọi âm thầm”.

Từ đêm đi vào mơ cũng thật gần, và có lần, trong giấc mơ, nhà thơ đã thấy những người đàn bà của hội họa siêu thực: “Tôi mơ thấy người đàn bà khỏa thân đứng hát/ Khập khiễng khúc ca như trinh bạch tật nguyền/ Tôi mơ thấy người đàn bà mộng du biển đêm/ Bám chặt vầng trăng như mấu cọc/ Tôi mơ thấy người đàn bà gánh cát nuôi con/ Khát tuổi xuân vắng chồng trận mạc/ Tôi mơ thấy người đàn bà có gương mặt giống em/ Hôn nhầm tôi bật khóc” (Tôi mơ thấy).

Có thể liệt kê vô số những chân dung đàn bà như thế trong thơ Hồng Thanh Quang. Chẳng nên quan tâm những người đàn bà ấy có thực hay không có thực, càng chẳng nên làm cái việc từ thơ anh mà tìm về nguyên mẫu, mà hãy chú ý tới điều này: Xuôi theo lộ trình thơ của tác giả, những người đàn bà ấy ngày một già đi, bớt mơ mộng trong veo đi, ngày một đa đoan hơn, trầm luân hơn, thậm chí mệt mỏi và chán nản hơn.

Đặt một bài thơ Hồng Thanh Quang viết năm 1979, khi anh còn rất trẻ, với những câu như: “Mỗi khi nghĩ về em ta lại nhớ/ Quãng thời gian không trở lại trong đời/ Gió tung lá, những giọt vàng trên lối/ Em ra đi ríu rít bên người/ Ta yêu em, chẳng bao giờ em biết/ Chẳng bao giờ ta hết yêu em/ Tình chưa có là tình không thể mất/ Với sân trường và lá, gió và đêm" (Mỗi khi nghĩ), bên cạnh một bài anh viết sau đó 30 năm, với những câu như: “Mọi khôn ngoan đều nhắc ta bình thản/ Trái tim người đàn ông ngũ thập không phải chùm chuông gió/ Lặng im mới là cứu rỗi của tình yêu/ Sao đêm nay tất cả trong ta đều náo động/ Như cánh rừng đại ngàn trong bão/ Ta thấy em đứng nhìn ta trân trân không nói một lời/ Nhưng ánh mắt như nghìn mũi tên xuyên thấu trái tim ta” (Mọi khôn ngoan đều nhắc ta bình thản) - ta sẽ thấy ngay sự già đi này của nhân diện đàn bà.

Không có gì quá khó hiểu, khi mà bản thân chủ thể cũng đã từ một chàng trai đầy ngượng ngập e ấp trong mối tình đơn phương trở thành một người đàn ông tuổi ngũ thập, trải đời, thấu hiểu giá trị vàng của sự bình thản. Cũng là im lặng, nhưng cái im lặng của chàng trai là cái im lặng do không dám mở miệng, còn cái im lặng của người đàn ông ngũ thập là cái im lặng đạt được bằng bề dày trải nghiệm và sức mạnh ý chí. Mặt khác, cái quãng cách 30 năm giữa hai bài thơ và lời tự thú "sao đêm nay tất cả trong ta đều náo động" ở bài thơ sau, trên một phương diện nhất định, đã "tố giác" rằng đây là một trái tim chưa bao giờ ngừng yêu cho dẫu không ít lần bị tình yêu vò nát đến nhàu nhĩ, một người sống để yêu và để làm thơ về tình yêu. Mà quả thực là ở tập “Nỗi buồn tốc ký” này, thơ tình chiếm số lượng áp đảo.

Hầu như ở bất cứ bài nào người đọc cũng có thể bắt gặp những "từ khóa" như: anh, em, yêu, hờn dỗi, nước mắt, đau đớn, chia tay, v.v… những từ tạo nên một khí quyển tình ái đậm đặc cho cả tập thơ. (Thái quá có thể sẽ bất cập. Nhưng theo tôi, đây cũng là một trong những dấu hiệu để xác nhận phẩm chất thi sĩ. Nếu chúng ta đồng ý với nhau, một cách tối đơn giản, thơ là tiếng nói hồn hậu tự nhiên nhất của tình cảm con người, thì tôi không sao hiểu nổi việc có những nhà thơ cả đời chưa bao giờ làm thơ về tình yêu, cái tình cảm nhân tính bản năng đến thế, phổ quát đến thế?).

Do vậy, dù có những lúc ngã lòng để phải lên tiếng than "Đã quá già cho một tình yêu mới", trái tim yêu trong lồng ngực tuổi xế chiều ấy vẫn cứ lẳng lơ, vẫn cứ say đến lịm với những câu lục bát đầy tình tứ: “Hội làng đã lịm câu ca/ Mảnh trăng quan họ tan nhòa giữa mây/ Dùng dằng tay chẳng rời tay/ Em ơi rượu uống chưa say đã tình/ Hội xuân vương vấn sân đình/ Người xinh ai để một mình giao duyên/ Thâu đêm thập thững trên thuyền/ Yêu sao mắt phượng sáng lên mày ngài” (Hội làng đã lịm câu ca). Và không thể không dẫn ra câu này nữa: “Và rốt cuộc đã có ngày tất cả/ Hiểu ra điều đơn giản đến tinh khôi/ Khi đã yêu, dẫu rằng ta ngã gục/ Nhưng đôi môi không đổi giọng thay người” (Không gì thay đổi). Nó có khí phách quật cường giống tuyên ngôn trà Tân Cương của nhà thơ Phùng Cung hồi vài chục năm trước: "Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương". Nhưng đây là tuyên ngôn về tình yêu, là sự thức nhận từ tình yêu.

Hồng Thanh Quang từng viết những câu mà người đọc có thể coi đó như quan niệm thơ của chính tác giả: “Đứng ngoài mọi tham vọng cách tân/ Đứng ngoài mọi tranh luận/… Sẽ có ngày tôi viết câu thơ/ Như hơi thở ấm/ phả vào anh/ Trong phút lâm chung” (Viết trong quán cũ). Tập “Nỗi buồn tốc ký” trung thành với quan niệm này. Không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy nhà thơ tỏ ra gồng mình lên gân để bắt kịp và đồng hành với những "isme" thời thượng ngoài kia. (Có chăng, chỉ là một vài biểu hiện của dòng nhựa thơ Nga mà Hồng Thanh Quang đã ngấm và vẫn hằng yêu mến, trong tư cách một độc giả và một dịch giả: thơ Puskin, thơ Esenin, thơ Akhmatova, thơ Pastenark…). Anh viết bằng chính sự trải nghiệm của bản thân mình qua từng giai đoạn cuộc đời. Viết bằng cảm xúc của mình trong những khoảnh khắc hiện sinh. Viết bằng nỗi buồn, bằng những vết xước và máu ứa. Anh phơi trên trang thơ những vật vã, dằn vặt, thất vọng, đau đớn trong tình yêu, những dư vị không phải bao giờ cũng ngọt ngào của ấm lạnh nhân tình thế thái.

“Nỗi buồn tốc ký” có thể nói, trước hết, là tiếng thầm thì của một người với chính mình. Một người, bắt đầu bước vào cái tuổi xế chiều, chợt nhận ra khoảng cách vời vợi giữa "Tôi" và "Thế giới", và ớn lạnh: “Nửa đêm tỉnh rượu ta buồn/ Thôi thì mình cứ tự thương lấy mình”.

Sự ớn lạnh đã nao nức thành thơ

Hoài Nam
Phụ trách biên tập: Trần Thị An Bình - Nguyễn Trang Dũng - Trần Anh Tú
© 2004. Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An. All rights reserved.
® Liên hệ với Tòa soạn khi phát hành lại thông tin từ Website này. Ghi rõ nguồn "CAND.com.vn"