Nỗi lòng người đi và kỷ vật để lại
Mạch chuyện được tiếp nối, đó là sự việc diễn ra sau khi Đặng Trần Đức ra viện, trở về báo cáo lại toàn bộ tình hình trên với lãnh đạo...
Theo anh Đức, rất có thể cấp trên (các nhà lãnh đạo tình báo lúc đó - K.M.D.) đã có những dự định quan trọng mang ý nghĩa chiến lược, nên sau khi nghe Đặng Trần Đức báo cáo, lãnh đạo đã cho ý kiến chỉ đạo luôn - "Để đảm bảo an toàn, dứt khoát đồng chí phải chuyển địa bàn hoạt động vào Sài Gòn. Hai người cùng đi. Nếu không, sẽ khó giải thích với chú cô ấy và dễ bị lộ".
Mới nghe vậy, anh đã vã mồ hôi, chưa biết định trả lời sao thì cấp trên đã tiếp: "Chúng tôi biết đồng chí định nói gì. Nhưng cứ yên tâm, việc này tổ chức sẽ có kế hoạch giải tỏa giúp đồng chí. Cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc còn đầy cam go thử thách, đòi hỏi mỗi chúng ta, kể cả quần chúng nhân dân tiếp tục phải chấp nhận hy sinh, kể cả tình riêng vì sự nghiệp lớn. Hai người cứ yên tâm ra đi, còn gia đình, chị và 2 cháu (Lúc đó Đặng Trần Đức đã có vợ, 2 con. Cháu gái đầu lòng 5 tuổi và cháu trai 2 tuổi) sẽ có tổ chức chăm lo".
Họ bí mật chuẩn bị, rồi xuống Hải Phòng, lên một tàu buôn thẳng hướng trời Nam. Tôi đang định hỏi trước khi đi 2 người phụ nữ có gặp nhau không, thì anh đã tiếp - Trước lúc lên đường, cô ấy có viết một bức thư ngắn với nội dung: "Do yêu cầu nhiệm vụ của tổ chức, em xin phép được thay chị vào trong đó để chăm sóc anh, giúp anh hoàn thành nhiệm vụ. Hẹn ngày đất nước thanh bình, chị em ta sẽ gặp nhau...". Phần tái bút có ghi - "Em xin gửi chị một chút quà làm kỷ niệm với tất cả tấm lòng của người đi. Chúc chị khỏe, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, vững lòng tin vào ngày anh trở về". Cô ấy tháo đôi hoa tai cẩm thạch, bỏ chung vào phong thư, cẩn thận dán lại, nhờ người thân chuyển tới nhà tôi.
Hôm đó là đêm 11/4/1975. Đêm cuối cùng chúng tôi "bám trụ" Trạm T9 để sáng hôm sau có ôtô đưa ra Trạm T8. Tôi trằn trọc cả đêm không sao ngủ được, bởi cảm động trước tình cảm của hai người thân yêu nhất của huynh trưởng tôi. Chuyện thật mà cứ như là trên phim ảnh.
Bình phong chức nghiệp
Đáp lại thịnh tình của "đại ca" sau bao đêm kể cho tôi nghe cuộc đời hoạt động của anh trong kháng chiến chống Pháp. Cả ngày và đêm 13/4 nghỉ tại Trạm T8, tôi kể với anh đôi nét về bản thân mình những ngày mới vào chiến trường. Thực ra những chuyện đó nói với anh có khác gì một sĩ quan tập sự đứng trước vị tư lệnh tài danh - Thời đó đơn vị cũng chuẩn bị tư thế cho tôi vào hoạt động hợp pháp tại Sài Gòn. Tôi được mang họ tên khác, quê quán tại Gia Lộc, Hải Dương (chứ không phải Quảng Oai - Xứ Đoài quê tôi).
Về năm sinh, trong căn cước tăng lên 7 tuổi so với tuổi thực của tôi. Đi lính Sư đoàn 7. Năm 1954 tập kết vào Trà Vinh. Do bệnh yếu tim nên được giải ngũ, về cư ngụ tại Lai Khê, Bến Cát, tỉnh Bình Dương, làm giáo sư bậc trung học. Nghe tới đây, anh khẽ gật gật đầu - "À! Thế là đồng chí bình phong chức nghiệp nghề giáo dục. Chắc là phải tìm hiểu kỹ ngành này và binh chủng pháo binh?". "Dạ có. Em đã có thâm niên 4 năm lính pháo binh 105 ly và qua Trường Hạ sĩ quan Pháo binh Quân khu Tây Bắc, đồng thời làm giáo viên kiêm chức ở đơn vị...". "Thế thì bình phong chắc lắm. Nhưng sao không bố trí vô thành?".
"Thời đó tụi nó bắt lính như điên. Dù đã làm giấy tờ tăng hơn tới 7 tuổi nhưng trẻ quá, khỏe như vâm. Nó mà kiểm tra lại sức khỏe thì "xôi hỏng bỏng không". Vì vậy, đơn vị chưa dám đưa vào. Phải chờ thời...". Nhắc tới những chuyện này, tôi như đã đưa anh trở về với những tháng năm tung hoành ngay giữa sào huyệt của địch. Anh hồ hởi, phấn chấn xen vào mạch chuyện của tôi.
"Nghề của chúng ta, bình phong chức nghiệp là cực kỳ quan trọng. Bình phong tốt là đảm bảo bảy, tám mươi phần trăm thắng lợi. Ngoài ra, câu chuyện ngụy trang trong tiếp xúc cũng rất quan trọng. Đôi khi nhờ nó mà rất được việc, rút ngắn thời gian vòng vo tìm hiểu. Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, tôi đi sâu tìm hiểu về đảng "Cần lao nhân vị" tìm cách tiếp cận một số tên tai to mặt lớn trong tổ chức này. Khi đã "vào cạ", có tên thân mật hỏi - "Nè!... anh Ba (gọi theo thứ bậc anh em trong gia đình. Còn tên thường gọi của anh ở Sài Gòn cho tới nay tôi vẫn chưa biết - K.M.D.) dân ngoải (ngoài ấy) vô, hiền khô, coi mòi chơi được, không như mấy cha nội kia, dựa hơi Tổng thống làm phách lắm. Vô khi nào vậy?...". "Thì... Tổng thống vô khi nào thì mình vô khi đó...".
Thế là từ đó đi công cán hoặc thị sát địa phương nào là họ đều mời đi cùng "về miệt vườn ít bữa cho khuây khỏa. Bám hoài đất đô thành chán thấy mồ". Có lần về An Giang, không hiểu họ giới thiệu về mình ra sao mà mấy tay chóp bu bản xứ lại lầm tưởng mình là phái viên Trung ương đảng "Cần lao nhân vị" về kiểm tra nên tất cả đều chạy rối giò, đón tiếp linh đình. Hơn 20 năm sống giữa Sài Gòn với bao điều trắc ẩn bủa vây, phải bình phong nhiều vai diễn, tiếp xúc với mọi giai tầng xã hội, phải chứng kiến bao nỗi xót xa của những phận đời đau khổ; phải tiếp xúc với những tên trùm tội phạm, tội ác tày trời, dẫu lửa căm thù ngùn ngụt trong lòng mà vẫn phải thản nhiên như không.
Sống trong khu cán bộ cao cấp của ngụy quyền Sài Gòn, sống giữa đô thành hoa lệ... mà quá cô đơn. Đôi khi tôi nghĩ, cái nghề của ta nó nghiệt ngã quá đồng chí Thái Dương ạ! Mấy chục năm hoạt động an toàn, các cơ sở bí mật đang phát huy tác dụng tốt phục vụ cho giai đoạn quyết liệt này thì tai họa ập tới, hoàn toàn do yếu tố khách quan, để bây giờ rơi vào cảnh này... không hiểu vợ con tôi trong ấy bây giờ ra sao? Kẻ thù của chúng ta thâm hiểm lắm...
Thông cảm với tâm trạng anh, tôi lựa lời động viên, rồi pha vui "Các cụ ta đã chẳng từng đúc kết - sinh nghề tử nghiệp là gì".
Hơn 2 tuần hành quân, vạ vật ở mấy binh trạm, mưa nắng thất thường, lại chưa thích nghi với thời tiết, sức khỏe của anh sút giảm, kém ăn, ít ngủ, rồi cảm sốt. Tôi bỗng trở thành y tá, hộ lý chăm sóc anh, bắt uống thuốc, ép ăn cơm. Cơm ở binh trạm chẳng có gì ngoài bí ngô và cá khô. Nhờ có kinh nghiệm của những ngày vượt Trường Sơn, tôi mò vào rừng hái lá chua về nấu canh cho anh. Một mớ lá bứa non bỏ vào ăng-gô nấu sôi lên, bỏ vào vài thìa ruốc thịt (thịt chà bông), thêm tý mì chính là có một món canh chua tuyệt vời. Ngày có xe rời trạm T8, dẫu vừa dứt sốt nhưng thấy anh khỏe ngay.
Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung đã giải phóng, xe chạy ra Buôn Ma Thuột, rồi từ đó theo Quốc lộ 19 về Bình Định, theo Quốc lộ 1 ngược lên phía bắc, về Trạm Z7. Nghe lái xe nói vậy chứ cũng không biết Z7 đặt ở tỉnh nào. Thời đó Quốc lộ 1 xấu lắm, nhiều cầu, nhiều phà, phải dừng nghỉ thêm 2 chặng đường Quảng Ngãi và Đông Hà. Ngày 24/4 tới Z7, mới biết đó là thị xã Quảng Bình rồi xe quay trở vào phía Nam. Chúng tôi phải nằm lại Quảng Bình chờ chuyến xe ra. Ngày nào cũng ngóng xe mà không có. Với tính chất của đoàn ưu tiên đặc biệt, tôi khẩn khoản trình bày với trạm trưởng, nên tới ngày 29 ông phải xuất chiếc xe dự phòng của trạm đưa đoàn ra Hà Nội.