Chính sách của đồng minh phương Tây từ sau sự kiện Athens

11:05 21/02/2015
70 năm trước, ngày 3/12/1944, cuộc biểu tình trên Quảng trường Syntagma của thủ đô Athens đã sớm bị dập tắt thô bạo: 28 người bị bắn chết, 128 người bị thương, thủ phạm không phải là quân phát xít Đức mà là “những người bảo trợ” từ nước Anh.

Bằng một quyết định lạnh lùng nhưng đầy toan tính thâm sâu, Thủ tướng Anh W. Churchill đã khiến lực lượng kháng chiến chống phát xít Đức của Hy Lạp bị phân hóa trầm trọng, châm ngòi cho cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài đến năm 1949  và gieo hạt mầm cho phong trào cực hữu ở đất nước này tồn tại, lớn mạnh đến tận ngày nay.

Khi “người bảo trợ” trở mặt

“Tôi vẫn như còn thấy rõ mồn một mọi thứ, không thể nào quên” - đôi mắt già nua của thi sĩ lão thành Titos Patrikios long lên - Cảnh sát Athens vãi đạn vào đám đông biểu tình từ tầng mái tòa nhà Quốc hội trên Quảng trường Syntagma. Những chàng trai, cô gái nằm trên vũng máu, trên những bậc thang dẫn lên tòa nhà, dòng người khác rầm rập chạy xuống trong hoảng loạn tột độ.

Nhưng rồi máu liều lĩnh và niềm tin vào lý tưởng níu chân tôi lại. Tôi nhảy lên đài phun nước giữa quảng trường (nó vẫn còn đó đến ngày nay) và hét lên: “Các đồng chí! Đừng rời bỏ hàng ngũ! Chiến thắng sẽ thuộc về chúng ta. Đừng chạy đi đâu hết! Chúng ta sẽ chiến thắng!”.

Titos dừng hơi, thở ra đầy khó nhọc và đôi vai đã gánh 86 năm đời buông thõng xuống: “Tôi đã từng tin rằng chúng tôi sẽ thắng, nhưng mà…”. Không hề có chiến thắng hoặc vinh quang nào được vẽ lên trong ngày 3/12 năm ấy, mà thay vào đó, đất nước được mệnh danh là xứ sở của những á thần và những thiên trường ca thần thoại chỉ mới 6 tuần trước vừa thoát khỏi ách xâm lược của phát xít lại chìm vào cuộc nội chiến tàn khốc.

Đoàn người xuống đường cầu nguyện cho những người đã chết trong biến cố ngày 3/12/1944.

Người Anh, mới 3 năm trước còn đứng cùng chiến tuyến với những kháng chiến quân Hy Lạp giờ lại giao súng đạn cho một bộ phận theo xu hướng bảo hoàng, cực hữu, nối giáo cho cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

“28 người, toàn là những chàng trai cô gái trẻ măng bị bắn chết cùng hàng trăm người khác bị thương. Không ai trong số chúng tôi ngờ rằng một vụ tắm máu lại là kết cuộc cho lần xuống đường ấy” - cặp mắt của cụ Titos Patrikios lại nhòe đi theo dòng hồi tưởng.

Nhưng cặp mắt của người đứng đầu nước Anh vì chỉ nhìn thấy viễn cảnh mà ông ta không hề mong đợi là uy thế của Mặt trận Giải phóng dân tộc Hy Lạp - EAM - mà hạt nhân là lực lượng Cộng sản đang dần lớn mạnh và sẽ biến thành một thế lực hữu hình có thể làm phá sản hoàn toàn kế hoạch của ông ta đưa vua Hy Lạp đang sống lưu vong trở lại nắm quyền.

Bên cạnh cậu thiếu niên 16 tuổi Titos Patrikios, nhiều người khác có mặt trong đoàn người biểu tình trên Quảng trường Syntagma ngày hôm ấy, sau này trở thành những thành viên chủ chốt của phong trào cánh tả.

Như Mikis Theodorakis, nhà soạn nhạc lừng danh của Hy Lạp hiện đại, trong biến cố ngày 3/12/1944 đã dùng tay không vẽ lên vũng máu của những người đồng chí vừa ngã xuống lá cờ Hy Lạp trước khi cùng đồng đội rút đi và còn kịp nhận ra rằng, Hy Lạp sẽ bị đẩy đến bên bờ vực một cuộc chiến khác - giữa lực lượng kháng chiến quân Cộng sản với lực lượng mang tư tưởng bảo hoàng được người Anh hậu thuẫn. “Khắp nơi la liệt những thân người bê bết máu. Những chiếc máy bay trên đầu chúng tôi nhả đạn vào mọi thứ di động trên mặt đất. Cho đến bây giờ, sau ngần ấy năm trời, chỉ cần nghe tiếng rú của động cơ máy bay trong những bộ phim chiến tranh cũng làm sống lưng tôi lạnh cứng” - Mikis Theodorakis trần tình.

… Tháng 4/1924, Hy Lạp bãi bỏ chế độ quân chủ, thiết lập chế độ cộng hòa. Năm 1936, chế độ cộng hòa bị thay thế bằng chế độ độc tài của tướng Ioannis Metaxas, người từng được Hoàng đế Đức bảo trợ, trong khi cựu hoàng Hy Lạp, Vua George II được nước Anh che chở cho sống lưu vong.

Trong những năm Hy Lạp bị phát xít Đức - Italia chiếm đóng, các lực lượng kháng chiến tự động thành lập với nhiều đường hướng chính trị khác nhau - lớn mạnh nhất là Mặt trận Giải phóng dân tộc Hy Lạp (EAM), Lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Hy Lạp, với sự yểm trợ quân sự từ các nước Liên Xô, Bulgaria, Nam Tư và Albania. Bắt đầu từ mùa thu năm 1943, xung đột giữa EAM và các lực lượng kháng chiến khác ngày càng tăng, như với Lực lượng kháng chiến quốc gia Hy Lạp (phái bảo hoàng chống Cộng sản) đứng sau là quân Anh - Mỹ.

Sở Chỉ huy các chiến dịch đặc biệt của Anh (Special Operations Executive - SOE, tiền thân của Cơ quan Tình báo Anh) thời kỳ này đã ghi nhận: “Phái hữu khuynh và phe bảo hoàng xem ra yếu thế hơn hẳn EAM trong các vùng họ làm chủ”. Mùa xuân năm 1944, các lực lượng đối lập tạm thời hòa giải đưa đến việc thành lập chính phủ lâm thời với 6 thành viên thuộc EAM.

Thủ tướng Anh W. Chunchill được hộ tống đến Hy lạp trên một chiến thuyền.

Tháng 12/1944, quân Đồng minh ( Liên xô, Anh, Mỹ ) bắt đầu tiến vào giải phóng Hy Lạp. Lãnh đạo EAM tiến hành phong trào phản đối quân Anh đòi giành quyền cai quản thủ đô Athens. Quân Anh nhân dịp này đàn áp thẳng tay EAM khiến lực lượng vũ trang của mặt trận này bị tổn thất nặng nề. Nhưng EAM vẫn còn có mặt trong Quốc hội và tiếp tục giằng co với phe hữu khuynh bên cạnh thành phần dân tộc cực hữu…

Mặc dù Liên Xô là một nước Đồng minh trong Thế chiến II chống lại Đức Quốc xã, nhưng W. Churchill luôn “đề phòng” cao độ mọi động thái và bất kỳ kế hoạch nào được đưa ra bởi Đại Nguyên soái I. Stalin.

Vừa gặp nhau tại thượng đỉnh 3 nước Đồng minh tại Terhan năm 1943, W. Churchill lại “thu xếp” một cuộc gặp riêng với Tổng thống Mỹ và đưa ra chủ trương quân đội Đồng minh nên đổ bộ vào Hy Lạp hoặc các quốc gia trên bán đảo Balkans để ngăn cản tầm kiểm soát của Liên Xô tại các vùng đất này.

Nhưng tướng George C. Marshall là Tham mưu trưởng của Hoa Kỳ và tướng Dwight D. Eisenhower, Tư lệnh Tối cao các lực lượng Đồng minh tại châu Âu, lại cho rằng nên tổ chức một cuộc đổ bộ và tấn công vào đất Pháp. Các nước trong phe Đồng minh đều xem Hy Lạp là một quốc gia nằm trong vùng ảnh hưởng của Anh.

Stalin đã tôn trọng thỏa thuận của ông với W. Churchill và không can thiệp, nhưng Nam Tư và Albania đã bất chấp lời khuyên của Liên Xô, càng về giai đoạn cuối của Thế chiến II càng thường xuyên gửi các phương tiện hỗ trợ cho các lực lượng du kích ELAS (Quân đội Giải phóng nhân dân Quốc gia) và EAM của Đảng Cộng sản Hy Lạp.

Trong số các tài liệu của nội các Anh thời chiến còn lưu trữ một bản chép tay của Churchill viết cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt vào ngày 17/8/1944 được đóng dấu “Riêng tư và tối mật”: “Nội các chúng tôi và Bộ Ngoại giao rất quan tâm đến những gì đang diễn ra ở Athens. Ngay khi những binh đoàn Đức rút khỏi đất nước này, rất có thể EAM và những người Cộng sản quá khích sẽ tìm mọi cách làm chủ thành phố”.

Nhưng nếu EAM thật sự tính đến điều này, họ đã có thể làm trước khi quân Anh tiến vào Athens và không  giữ 50.000 chiến sĩ vũ trang ở bên ngoài thủ đô Athens. Từ tháng 11, Anh đã cho thành lập Lực lượng Cảnh vệ Quốc gia, những tiểu đoàn cảnh sát trong quân phục mới xuất hiện ngày càng công khai trên khắp đường phố thủ đô Athens, và Athens khi ấy không lớn đến nỗi nhiều thành viên kháng chiến cũ không thể nhận ra trong sắc phục ấy có nhiều gương mặt từng là chỉ điểm cho quân SS.

Giáng sinh 1944, “Trật tự ở Athens đã vãn hồi”!

Buổi sáng ngày 3/12 năm ấy đầy nắng, dòng người biểu tình, trong đó có đủ các thành phần: theo phe Cộng hòa, phe chống Bảo hoàng và phần lớn là những người Cộng sản, cuồn cuộn đổ về Syntagma. Họ đi đến đâu, vòng vây của cảnh sát dần khép chặt đến đấy.

Như một cách biểu tỏ sức mạnh liên minh của phong trào kháng chiến Hy Lạp với phe các nước Đồng minh và hy vọng khối này tiếp tục hỗ trợ cho một chính sách canh tân khi trên đất Hy Lạp đã sạch bóng quân phát xít, đoàn người biểu tình mang trên tay quốc kỳ của Hy Lạp, Anh, Mỹ và Liên Xô cùng những đợt hô vang: “Viva Churchill! Viva Roosevelt! Viva Stalin!”. Một tay chỉ huy cảnh sát hét lên: “Bắn vào lũ con hoang đó đi!”.

Tiếp ngay sau đó là hàng loạt đạn bắn ra từ tầng mái của tòa nhà Quốc hội và từ đầu não chỉ huy quân Anh đóng trong khách sạn Grand Bretagne. Với những loạt đạn bắn loạn xạ vào đám đông biểu tình gần nửa giờ đồng hồ, W. Churchill đã khởi động một cuộc chiến theo đúng ý đồ của ông ta.

Những ngày sau đó, Athens bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Những cỗ xe tăng của quân Đức được xe tăng Anh thế chỗ, thay vào sự hiện diện của những tay sĩ quan Gestapo hay SS là những sĩ quan và binh lính người Anh. Đêm trước lễ Giáng sinh, 24/12/1944, W. Churchill đến Athens, một tiểu đội cảnh sát chia nhau mật phục bên ngoài cùng các sĩ quan an ninh bảo vệ nghiêm ngặt nơi lưu trú của ông ta ở khách sạn Grand Bretagne.

Những người bị bắn chết bởi những loạt đạn từ mái nhà Quốc hội.

Ngày hôm sau, W. Churchill ra tuyên bố: Tình trạng bạo loạn ở Athens đã được dẹp yên. Trật tự đã vãn hồi. Kiểu “vãn hồi trật tự” này là thành tích của một Chính phủ Hy Lạp lâm thời được dựng lên cấp kỳ bao gồm những phần tử Bảo hoàng và tay sai của phát xít. W. Churchill chấp thuận cả việc tuyển dụng các phần tử từng được phái cực hữu và thân phát xít huấn luyện để sung vào các đơn vị an ninh với nhiệm vụ bắt giữ hoặc ám sát những thành viên của ELAS/EAM.

Từ đây, lịch sử Hy Lạp hiện đại phải giở sang một chương đen tối và bi thương - thời kỳ “Khủng bố trắng”, không khác gì thời kỳ của nhà độc tài Metaxas - hàng ngàn chiến sĩ Cộng sản bị giết hại, gần 12.000 người tả khuynh hoặc có cảm tình với ELAS bị tống vào các trại tập trung mà không lâu trước đó còn dưới quyền sinh sát của những tên quản ngục - đồ tể phát xít Đức, rồi họ phải đón nhận kết cuộc là những màn tra tấn, thủ tiêu và bặt vô âm tín. Tình thế này buộc “những người kháng chiến cũ” một lần nữa phải cầm vũ khí để phản vệ.

“Đêm đầu tiên bị tống vào Makronissos (trại giam khét tiếng nhất về mức độ tàn bạo), chúng tôi bị đánh đập không nương tay - thi sĩ lão thành Titos Patrikios kể tiếp - 6 tháng ở đó là 6 tháng lao động khổ sai, ngày nào đám cai ngục cũng lùa tù nhân đi đẽo đá, chở cát và phát quang cây dại.

Có lần chúng phát hiện một bài báo đăng tải chuyện tù nhân của Makronissos bị tra tấn và ngược đãi như súc vật, chúng nghi tôi là người tuồn thông tin ra bên ngoài vì ngay trước đó, mẹ tôi được vào thăm tôi. Thế là chúng quật roi vào hai chân tôi đến nát nhừ và bắt tôi đứng suốt 24 tiếng đồng hồ. Tôi không làm chuyện đó, nhưng nếu có, tôi chẳng bao giờ thấy phải ân hận”.

Nhưng Titos Patrikios vẫn là một trong số nhiều người may mắn sống sót vì hàng ngàn tù nhân khác đã bị xử bắn, bị đem ra treo cổ giữa chốn đông người.

…Tính đến tháng 9/1947, sau khi Đảng Cộng sản Hy Lạp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, hơn 19.600 người tả khuynh bị giam giữ trong các nhà tù (riêng ở Makronissos đã có đến 12.000 người, gần 40.000 người khác bị lưu đày và trong số này hơn 3.000 người mất tích).

Năm 1947, cuộc nội chiến leo thang, nước Anh không còn mấy quan tâm đến lợi quyền của họ ở Hy Lạp vì mục đích chính họ đã đạt được - đẩy lực lượng Cộng sản ra khỏi chính quyền nên họ yêu cầu người Mỹ thay thế “vai trò bảo hộ”. Chính sách của Mỹ trong việc hỗ trợ chính quyền phát xít ở Hy Lạp được thể hiện trong "Học thuyết Truman". Tháng 2/1952, chính phủ thân Mỹ của Hy Lạp nhanh chóng được kết nạp làm thành viên của Khối liên hiệp Quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Mạnh Quân