“Dự án Azorian” qua hồ sơ giải mật của CIA

Thứ Hai, 04/05/2026, 10:41

Dưới sức ép của dư luận, trung tuần tháng 2/2010, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã giải mật hồ sơ Dự án Azorian theo quy định của Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA).

Về Dự án Azorian

Theo Bách Khoa thư mở (EWO), Dự án Azorian (Project Azorian), gọi tắt Dự án PA được xếp là SCI (cấp độ bảo mật đặc biệt). Dự án PA còn được báo chí gọi là Jennifer nhằm trục vớt tàu ngầm Liên Xô K-129 chìm dưới đáy Thái Bình Dương (TBD)  năm 1974 bị chìm năm 1968, cách Hawaii 2.510 km về phía Tây Bắc. Dự án PA là một trong những hoạt động tình báo phức tạp, tốn kém và bí mật nhất trong Chiến tranh Lạnh với chi phí khoảng 800 triệu USD (tương đương 3,9 tỷ USD thời giá 2024).

“Dự án Azorian” qua hồ sơ giải mật của CIA -0
Dự án của CIA nhằm trục vớt tàu ngầm Liên Xô K-129 chìm dưới đáy Thái Bình Dương năm 1974.

Chuyện bắt đầu vào ngày 24/2/1968, tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo K-129 của Hạm đội TBD Liên Xô, rời căn cứ Rybachiy ở Kamchatka để thực hiện cuộc tuần tra thường lệ. Đây là chuyến tuần tra thứ ba của của K-129 kể từ khi hoàn thành đợt tổng hiện đại hóa một năm trước đó. Vào ngày đầu tiên, khi K-129 di chuyển ra vùng nước sâu, thực hiện lặn thử nghiệm, nổi lên để liên lạc vô tuyến và lên đường đến vị trí đã định. Theo quy định, K-129 phải liên lạc vô tuyến tiêu chuẩn với chỉ huy ở Kamchatka khi vượt qua kinh tuyến 180. Nhưng K-129 đã bỏ qua các lần liên lạc này, không phản hồi và đến tuần thứ 3 tháng 3/1968 thì mất tích.

Liên Xô khi ấy không xác định được vị trí của K-129, nhưng Mỹ lại làm được nhờ công tàu ngầm USS Halibut bằng cách sử dụng Fish, một thiết bị kéo dài 3,7 mét, nặng 2 tấn (1,8 tấn) với các camera, đèn nháy và sonar được chế tạo để chịu được độ sâu cực lớn. Sau đó chiến dịch trục vớt của CIA được bắt đầu dưới vỏ bọc khai thác quặng mangan.

Tàu và thiết bị dùng cho khai thác mỏ về danh nghĩa thuộc sở hữu của tỷ phú ẩn dật Howard Hughes, nhưng được CIA bí mật hậu thuẫn chi tiền cho chế tạo tàu Hughes Glomar Explorer (HGE). HGE đã trục vớt một phần của K-129, nhưng do sự cố cần cẩu khiến hai phần ba phần được trục vớt bị gãy và rơi trở lại xuống biển.

“Dự án Azorian” qua hồ sơ giải mật của CIA -0
Tàu ngầm K-129 của Liên Xô trước khi gặp sự cố.

CIA từng từ chối giải mật

Theo quy định trong đạo luật FOIA, ngày 12/2/2010, lần đầu tiên, CIA đã giải mật thông tin về Dự án PA, một trong những kế hoạch tuyệt mật, nhạy cảm nhất trong lịch sử của CIA. Cùng với hồ sơ giải mật, CIA còn công bố cả các bản ghi nhớ của Nhà Trắng về các cuộc trao đổi từ năm 1975, thuật lại phản ứng của Tổng thống Ford và các thành viên nội các về những thông tin rò rỉ trên báo chí về tàu thăm dò HGE.

Những chi tiết đầu tiên về Dự án PA được nhà báo Jack Anderson của tờ Los Angeles Times đăng tháng 2/1975, và bài báo nữa của phóng viên Hersh của tờ New York Times đăng ngày 19/3. Kể từ đó, CIA kiên quyết từ chối giải mật bất kỳ tài liệu liên quan đến Dự án PA đến mức không xác nhận cũng không phủ nhận sự tồn tại của chiến dịch này.

Quan điểm CIA thay đổi đôi chút vào những năm 1990, khi đồng ý giải mật một đoạn băng video trước đó đã được trao cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin, nói về cảnh chôn cất trên biển các thủy thủ người Nga được tìm thấy trong phần tàu ngầm mà CIA đã trục vớt. Nhưng ngoài đoạn băng video này, trong hơn 35 năm, công chúng chỉ có thể dựa vào một số ít sách báo được viết mà không được tiếp cận với các tài liệu mật để biết thực hư về dự án. 

Nội dung giải mật có gì đặc biệt?

Theo hồ sơ giải mật, Dự án PA bắt đầu vào ngày 1/3/1968, khi một tàu ngầm lớp Golf-II của Liên Xô, ký hiệu K-129 (CIA gọi là 722), mang theo 3 tên lửa đạn đạo hạt nhân SS-N-4 Sark, rời căn cứ hải quân Petropavlovsk. Nếu chiến tranh nổ ra, K-129 sẽ phóng 3 quả tên lửa này, mỗi chiếc mang đầu đạn hạt nhân một megaton, vào các mục tiêu dọc theo bờ biển phía tây của nước Mỹ. Nhưng vào giữa tháng 3/1968, sự cố đã xảy ra với K-129, làm nó chìm cách Hawaii 2.510 km về phía tây bắc, toàn bộ thủy thủ đã thiệt mạng. Điều thú vị, hồ sơ của CIA lại không đề cập đến nguyên nhân tai nạn và chìm ở độ sâu trên 5.000m dưới biển TBD.

Thông tin được giải mật cung cấp thêm nhiều điều chưa được công bố. Cụ thể, vào ngày 1/7/1969, CIA thành lập Ban dự án Đặc biệt để thực hiện Dự án PA. Người đứng đầu là John Parangosky, quan chức cấp cao thuộc Cục Khoa học và Công nghệ của CIA. Parangosky từng quản lý việc phát triển và vận hành một số hệ thống trinh sát trên không tuyệt mật của CIA. Phó của ông ta là sĩ quan hải quân Ernest "Zeke" Zellmer, người này từng tốt nghiệp học viện và là sĩ quan tàu ngầm trong Thế chiến II. Kế hoạch này được Tổng thống Mỹ Richard Nixon đích thân phê duyệt tháng 8/1969.

“Dự án Azorian” qua hồ sơ giải mật của CIA -0
Tàu chuyên dụng HGE của CIA đảm nhận việc trục vớt K-12.

Đến tháng 10/1970, một nhóm kỹ sư CIA và các nhà thầu được cấp phép đặc biệt để xác định tính khả thi trục với con tàu ngầm nặng 1.750 tấn này. Nhóm đã lập phương án luồn một sợi dây cáp đặc biệt làm bằng dây ống quanh tàu ngầm, sau đó từ từ nâng tàu lên mặt nước bằng tời hạng nặng được gắn trên một con tàu được chế tạo đặc biệt cho mục đích nói trên.

Ban đầu, CIA không mấy lạc quan về  thành công của chiến dịch, nếu có cũng không quá 10%. Đến tháng 8/971, Dự án PA suýt bị hủy bỏ vì chi phí quá lớn, điều duy nhất gỉai cứu chương trình chính là tiềm năng thu được thông tin tình báo mà CIA hy vọng. Bất chấp những lo ngại về chi phí, vào ngày 4/10/1971, CIA đã được cấp phép tiếp tục chương trình.

Trung tuần tháng 11/1971, công việc được bắt đầu với việc chế tạo một con tàu chuyên dụng tại xưởng Sun Shipbuilders ở Chester, Pennsylvania, được đặt tên là Hughes Glomar Explorer (HGE). Theo tiến độ, HGE sẽ hạ thủy vào ngày 5/10/1972 và bàn giao cho CIA vào tháng 4/1973.

Cũng trong thời gian trên, tại hội nghị thượng đỉnh Moscow diễn ra tháng 5/1972, sự hòa giải giữa Mỹ và Liên Xô lại diễn ra tích cực nhờ các cuộc gặp thân mật giữa Tổng thống Nixon và Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô Leonid Brezhnev nên Dự án PA có nguy cơ “trật ray”. Tháng 7/1972, Ủy ban Điều hành đặc biệt, cơ quan giám sát dự án, đã yêu cầu Ủy ban 40, cơ quan giám sát tất cả các hoạt động tình báo nhạy cảm của Mỹ xem lại dự án.

Phản hồi không mấy tích cực, ngay cả thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, kiêm Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA) cũng khuyên chấm dứt dự án.  Bất chấp những đánh giá tiêu cực, vào ngày 11/12/1972, Tổng thống Richard Nixon vẫn cho phép tiếp tục chương trình. Như vậy rào cản cuối cùng mà Dự án PA phải vượt qua đã giải quyết xong.

Ngày 7/6/1974, Tổng thống Nixon đích thân phê duyệt khởi động sứ mệnh Dự án Azorian, với điều kiện tàu HGE không bắt đầu hoạt động cho đến khi ông trở về từ hội nghị thượng đỉnh ở Moscow dự kiến kéo dài từ ngày 27/6 đến ngày 3/7/1974.

Ngày 4/7/1974, sau một ngày Tổng thống Nixon từ Hội nghị thượng đỉnh Moscow trở về, tàu HGE đã đến địa điểm trục vớt ngoài khơi Hawaii để tiến hành công việc. Công tác trục vớt tiến hành được gần 2 tuần thì hai tàu giám sát của hải quân Liên Xô xuất hiện. Lo ngại Liên Xô có thể đổ bộ lên tàu bằng trực thăng, nên ngày 18/7/1974, giám đốc tàu HGE đã ra lệnh xếp các thùng hàng trên boong để ngăn Liên Xô đổ bộ. Theo hồ sơ giải mật, mệnh lệnh "chuẩn bị sẵn sàng tiêu hủy khẩn cấp các tài liệu nếu Liên Xô đổ bộ lên tàu. Nhóm bảo vệ có nhiệm vụ câu giờ để tiêu hủy tài liệu, nhưng Liên Xô lại không lên tàu".

Ngày 1/8/1974, HGE bắt đầu trục vớt K-129. Phải mất 8 ngày để kéo phần còn lại của tàu K-129 vào khoang chứa của HGE. Ngày hôm sau, các hoạt động trục vớt hoàn tất và tàu đã quay về Hawaii để dỡ hàng.

Đáng tiếc, CIA đã lược bỏ nhiều phần trong hồ sơ, khiến việc đánh giá thiếu chính xác mức độ thành công của Dự án PA. Ví dụ, CIA đã từ chối giải mật bất kỳ thông tin nào liên quan đến việc vượt chi phí. Các phần được giải mật của CIA cũng không trả lời được những câu hỏi quan trọng về việc tàu HGE đã đưa được bao nhiêu phần của tàu ngầm lên mặt nước, hoặc thông tin tình báo nào đã thu thập được từ việc khai thác các phần của tàu ngầm đã được trục vớt.

Với việc giải mật nửa vời này, dư luận khó có thể đoán được về những gì Dự án PA đã đạt được. Tháng 3/1975, bài viết của nhà báo đoạt giải Pulitzer, Seymour Hersh, trên tờ New York Times cho hay, theo các quan chức cấp cao của Hải quân Mỹ, nhiệm vụ trong Dự án PA là một thất bại, bởi CIA đã không thu hồi được bất kỳ tên lửa đạn đạo hạt nhân SS-N-4 nào của tàu ngầm K-129.

Cuốn Blind Man's Bluff (Bịt mắt bắt dê) năm 1998 của hai tác giả Sherry Sontag và Christopher Drew cũng cung cấp thông tin tương tự, chỉ có một phần phía trước dài 38 feet (gần 12m) của tàu K-129 được thu hồi, gồm cả  khoang ngư lôi hạt nhân. Sách còn nhấn mạnh, 90% của tàu K-129 cực kỳ dễ vỡ, bao gồm tháp chỉ huy, khoang tên lửa, phòng điều khiển, phòng vô tuyến và phòng máy, đã bị tách rời khi rơi xuống đáy đại dương. Sherry Sontag và Christopher Drew lập luận thêm, đề xuất của Hải quân Mỹ về việc sử dụng tàu ngầm lặn sâu để thăm dò con tàu bị chìm chưa bao giờ được cân nhắc mặc dù có thể mang lại kết quả tốt hơn.

Rõ ràng là dự án này cũng mang lại một số lợi ích gián tiếp. Tháng 6/1993, một nhóm chuyên gia Nga khi chuẩn bị một báo cáo cho Tổng thống Boris Yeltsin, đã sử dụng thông tin do các cơ quan tình báo Nga cung cấp kết luận, CIA đã thu hồi được ít nhất hai quả ngư lôi hạt nhân từ phần tàu ngầm K-129 mà họ đã đưa lên mặt nước.

Cũng theo báo cáo của Nga, mức độ phóng xạ plutonium mà nhóm công tác của CIA trên tàu HGE gặp phải tương dương với hai đầu đạn hạt nhân. Kết luận này được xác nhận một phần trong văn bản còn lại trong tài liệu giải mật của CIA, trong đó nói rằng đội cứu hộ của HGE đã phải xử lý sự phơi nhiễm plutonium sau khi tàu ngầm được đưa lên mặt nước do phát tán của các thành phần thuốc nổ mạnh từ một hoặc nhiều quả ngư lôi hạt nhân của tàu K-129 gây ra.

Đặc tính kỹ thuật của tàu K-129.

- Lớp: Tàu ngầm diesel-điện lớp Golf II (Dự án 629A).

- Kích thước: Dài 98,9 mét, rộng 8,2 mét và mớn nước 8,5 mét.

- Hệ thống đẩy: 3 động cơ diesel, mỗi động cơ tạo ra 1.500 kW, 3 động cơ điện, tổng công suất 3.880 kW; hệ thống đẩy 3 trục.

- Vũ khí: 3 tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm SS-N-5 (Serbia) và ống phóng ngư lôi mang ngư lôi đầu đạn hạt nhân.

- Tầm hoạt động: ~15.000 hải lý (gần 2.780 km) bằng động cơ diesel.

- Tốc độ: 15-17 hải lý/giờ (28-31 km/giờ) khi nổi trên mặt nước và tốc độ tối đa khi lặn: 12-14 hải lý/giờ (22-26 km/giờ).

- Thời gian hoạt động liên tục: 70 ngày.

- Độ sâu hoạt động tối đa: 300 mét (984 ft).

- Biên chế: 83 người (20 sĩ quan, 63 binh sĩ).

Khắc Nam (Theo NGE/EWWO)
.
.