Những sự cố gây chết người trong điều trị phẫu thuật
Theo các nghiên cứu mới nhất, những sơ suất như thế trong phẫu thuật xảy ra khoảng 10.000 lần ở Mỹ từ năm 1990 đến 2010. Căn cứ theo những số liệu này, các nhà nghiên cứu ước tính có hơn 4.000 sai sót có thể ngăn ngừa được xảy ra trong điều trị phẫu thuật mỗi năm với cái giá phải trả là hơn 1,3 tỉ USD. Các nhà nghiên cứu gọi đó là "những sự cố không bao giờ được xảy ra" - giống như can thiệp mổ không đúng với chẩn đoán hay bệnh nhân bất ngờ tỉnh dậy giữa ca phẫu thuật.
Những trường hợp sai lầm chết người
Trường hợp thứ 1: Ám ảnh suốt đời do bị cắt nhầm quả thận
Ngày 4/4/2008, bà Rosie Powell (nay đã 79 tuổi) cảm thấy rất lạc quan khi bước vào Bệnh viện St. Rose Dominican, thành phố Las Vegas, bang Nevada (Mỹ) để được phẫu thuật cắt bỏ túi hậu môn giả. Sau khi hồi phục sức khỏe, Rosie Powell kinh hãi khi nhận thông tin từ bệnh viện cho biết bà đã bị cắt bỏ nhầm quả thận phải khỏe mạnh. Do nhầm tưởng quả thận phải là khối u ung thư - hồ sơ bệnh án của Powell cho biết bà chào đời với quả thận phải nằm sai vị trí - cho nên hai bác sĩ phẫu thuật Lyn Knoblock và Gregg Ripplinger đã tự quyết định cắt bỏ bộ phận này.
Sau khi vụ việc được cho là "tai nạn" xảy ra, một cuộc điều tra được tiến hành đối với Bệnh viện St. Rose Dominican và người ta phát hiện thêm nhiều vụ sơ suất khác trong điều trị phẫu thuật ở đây.
![]() |
| Bệnh nhân Rosie Powell đau đớn suốt đời do sai lầm trong ca mổ ở Bệnh viện St. Rose Dominican. |
Nhưng, sự cố cắt bỏ thận phải không phải là vấn đề duy nhất mà Rosie Powell phải đương đầu. Theo đơn kiện lên tòa án, sau phẫu thuật bà còn bị đau bụng dữ dội và không ăn được. Kết quả chụp CT cho thấy một lỗ thủng nằm giữa các mũi khâu tại vị trí hậu môn giả được cắt bỏ.
Sau 3 ca phẫu thuật để khắc phục hậu quả, và do các biến chứng cho nên bà Powell mang túi giả ruột hồi (hồi tràng, phần dưới của ruột non) để làm đường thoát chất thải. Powell phải mang túi giả ruột hồi suốt đời vì không còn dám đến bệnh viện để lấy bộ phận này ra khỏi cơ thể. Trong khi đó, hai bác sĩ Knoblock và Ripplinger vẫn tiếp tục hành nghề ở Bệnh viện St. Rose Dominican.
Trường hợp thứ 2: Bệnh nhân chết sau ca mổ sai
Vào tháng 9/2000, Richard Flagg (60 tuổi) kiểm tra sức khỏe ở Bệnh viện Meadowlands ở Secauxcus, bang New Jersey, và phát hiện có một khối u nhỏ lành tính ở lá phổi trái. Xét nghiệm hình ảnh CT (chụp cắt lớp) sau đó cho thấy chỉ có một phần nhỏ lá phổi trái sẽ được cắt bỏ cho nên Flagg rất lạc quan với ca phẫu thuật. Nhưng, sau khi tỉnh dậy trong phòng hồi sức, Flagg ngạc nhiên khi thấy những ống dẫn nằm phía bên phải của cơ thể.
Chắc chắn có sự nhầm lẫn, Flagg hỏi bác sĩ phẫu thuật nhưng được giải thích rằng có một khối u xuất huyết bên lá phổi phải cho nên êkíp mổ phải can thiệp để cứu mạng sống của ông. Sau đó, sức khỏe của Flagg xấu đi thấy rõ. Ông không làm việc hay đi đứng gì được và cuối cùng phải thở oxy.
Sau khi có được bệnh án trong tay, Flagg phát hiện trong bệnh án không có ghi chép gì về lá phổi phải khỏe mạnh của ông. Flagg bắt đầu thuê một luật sư và kiện vụ việc ra tòa.
Tuyệt vọng trước tình hình sức khỏe của mình, Flagg gặp một chuyên gia ung thư và nhận được thông tin xấu hơn nữa - lá phổi trái mắc bệnh của ông không còn hoạt động nữa. Đến tháng 9/2003 thì lá phổi trái của Flagg vỡ ra và ông chết trong đau đớn.
Sau vụ kiện kéo dài, tháng 5/2005 Bệnh viện Meadowlands chấp nhận bồi thường cho gia đình Flagg hơn 1 triệu USD. Charles Rock, luật sư của Flagg, cho rằng bác sĩ phẫu thuật đã đọc sai phim chụp cắt lớp CT dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai lá phổi. Thậm chí, khi Flagg được đưa vào phòng mổ, trên ngực của ông vẫn chưa được đánh dấu vị trí rạch dao và êkíp mổ cũng không xem xét cẩn thận trước khi tiến hành ca mổ.
Trường hợp thứ 3: Tỉnh dậy giữa ca mổ
Khi bà Carol Weither - sống ở Reston, bang Virginia (Mỹ) - được chỉ định mổ múc bỏ mắt phải vào năm 1998, bất ngờ tỉnh dậy ngay giữa ca mổ và nghe thấy tiếng nhạc cũng như tiếng nói chuyện ồn ào của các bác sĩ. Nhưng, Carol Weither tuyệt vọng khi cố hét lên hay thậm chí động đậy ngón tay ra dấu cho họ biết bà đang hết sức tỉnh táo. Ca mổ kinh hoàng này kéo dài hơn 5 giờ!
![]() |
| Bệnh nhân Sherman Sizemore đã tự sát vì ám ảnh do bị thức tỉnh giữa ca mổ. |
Trong một trường hợp khác, bệnh nhân nam Sherman Sizemore tỉnh dậy giữa ca mổ trong Bệnh viện đa khoa Raleigh ở Beckley, bang Virginia (Mỹ). Ca mổ được thực hiện vào ngày 19/1/2006 để xác định nguyên nhân gây những cơn đau bụng dữ dội cho bệnh nhân. Sizemore cảm thấy đau đớn nhưng không thể nào ra dấu cho các bác sĩ biết. Sau này Sizemore đã tự sát vì không chịu nổi những ám ảnh ghê rợn trong ca mổ.
Không một bệnh nhân nào muốn nhớ lại những chi tiết của một ca mổ. Nhưng, thực tế rất khác. Theo số liệu thống kê, có 1 trong 1.000 bệnh nhân cho biết mình bất ngờ tỉnh dậy giữa ca mổ (tình trạng gọi tắt là IOA), biết rõ cơ thể bị can thiệp như thế nào và chắc chắn đó không phải là giấc mơ! Tổn thương tâm thần là không thể chữa khỏi bởi vì bệnh nhân không thể ra dấu cho các bác sĩ biết mình đang nhận thức một cách rõ ràng ca mổ đang diễn ra như thế nào. Nhưng, vấn đề khó khăn là bác sĩ gây mê không biết bệnh nhân nào có nguy cơ cao bị IOA và không thể bảo đảm sự cố này sẽ không xảy ra.
Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học uy tín New England Journal of Medicine tháng 8/2011 đưa ra hai cách có thể sử dụng để giảm bớt sự cố IOA. Thứ nhất là giám sát sóng não của bệnh nhân và thứ hai là đo mức độ khí gây mê được bệnh nhân hấp thu. Nhưng, nghiên cứu cho thấy không cách nào có được hiệu quả mong muốn.
Nếu cho rằng một số bệnh nhân tỉnh dậy giữa ca mổ là do lỗi của bác sĩ gây mê, nghĩa là bệnh nhân không được hấp thu đủ khí gây mê thì chúng ta đã sai. Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, khoa học vẫn chưa biết nhiều về ý thức và ký ức con người cũng như mối quan hệ giữa chúng với thủ thuật gây mê.
Hàng ngàn sơ suất trong phẫu thuật diễn ra mỗi năm
Marty Makary, người lãnh đạo cuộc nghiên cứu về đề tài sai lầm trong phẫu thuật và là phó giáo sư khoa phẫu thuật Trường Đại học Y John Hopkins, bang Maryland (Mỹ), nhận định: "Những sự việc mà chúng ta biết thật ra còn thấp hơn thực tế rất nhiều".
![]() |
| Marty Makary, người lãnh đạo cuộc nghiên cứu về đề tài sai lầm trong phẫu thuật và là Phó Giáo sư Khoa Phẫu thuật Trường Đại học Y John Hopkins, bang Maryland (Mỹ). |
Marty Makary cho biết theo luật pháp, các sự cố phải được báo cáo đến chính quyền để xử lý hay xét xử trước tòa án. Nhưng, những sự cố trong y khoa thường được giấu kín và vụ việc chỉ được phát hiện khi bệnh nhân bị biến chứng sau mổ cần được can thiệp tiếp tục. Hậu quả là 59% trong các trường hợp làm cho bệnh nhân bị thương tật tạm thời, 6,6% tử vong và 33% bị tổn thương. Nghiên cứu của ông Makary tiết lộ sơ suất trong phẫu thuật thường xảy ra ở các bệnh nhân trong độ tuổi từ 40 đến 50.
Để ngăn ngừa những sơ suất trong điều trị ngoại khoa, các công nghệ mới gọi là mã vạch và quét tia lên cơ thể bệnh nhân để kiểm soát mọi công cụ được sử dụng trong ca mổ. Biện pháp khác là sử dụng loại mực không tẩy được để đánh dấu vị trí mổ trước khi gây mê bệnh nhân. Nhưng, không phải bất cứ bệnh viện nào cũng sử dụng công nghệ như thế và thậm chí mọi biện pháp phòng ngừa dù được triển khai cẩn thận thì trên thực tế những sai lầm vẫn có thể xảy ra.
Bà Nancy Foster, Phó chủ tịch Hội Bệnh viện Mỹ (AHA), nhận định mặc dù những sự cố thật ra cũng không cao nếu so với con số hàng chục triệu ca phẫu thuật mỗi năm được thực hiện ở nước này, song nếu như các biện pháp phòng ngừa được thực hiện đầy đủ và cẩn thận thì những sự cố trong phẫu thuật sẽ giảm rất nhiều.
Còn Lucian Leape, chuyên gia về an toàn cho bệnh nhân ở Đại học Havard, cho rằng mức tiền phạt thích đáng dành cho các bệnh viện đều xảy ra sự cố có thể cải thiện được tình hình một cách hiệu quả. Mức phạt cụ thể mà bà Lucian Leape đề nghị là 100.000 USD đối với trường hợp can thiệp phẫu thuật không đúng vị trí chẩn đoán, và sẽ tăng gấp đôi nếu sự cố tiếp tục xảy ra.
![]() |
| Nancy Foster, Phó Chủ tịch Hội Bệnh viện Mỹ (AHA). |
Mỗi năm có hơn 33 triệu người Mỹ được đưa vào phòng mổ và giao phó mạng sống của họ vào tay các bác sĩ, y tá và kỹ thuật viên. Mỗi năm - theo báo cáo nghiên cứu tựa đề "Sai lầm là con người" của Viện Y học Mỹ (IOM), một tổ chức độc lập cố vấn về các chính sách y tế - những chuyên gia y tế này đã giết chết 10.000 bệnh nhân bởi các sai lầm mà lẽ ra có thể ngăn chặn được.
Có những vụ việc được tiết lộ các bác sĩ can thiệp mổ không đúng bệnh nhân, cắt cụt chi sai chỉ định, cắt bỏ cơ quan nội tạng sai phía cơ thể bệnh nhân, chẩn đoán sai và thậm chí kê đơn thuốc sai liều dẫn đến chết người.
Ngoài các sự cố do lỗi kỹ thuật và công tác chuẩn bị ca mổ, nhiều người tin rằng vấn đề nguy hiểm nhất là thiếu sự trao đổi thông tin giữa các bác sĩ, y tá, chuyên viên kỹ thuật và bệnh nhân. Chính điều này không chỉ gây ra nhiều cái chết tức tưởi mà còn làm hạ thấp uy tín của bác sĩ và còn gây rối loạn tâm thần cho bệnh nhân sau mổ, gọi là rối loạn stress hậu phẫu.
Nguy hiểm hơn là sau những sai lầm mắc phải, đội ngũ y bác sĩ lại nấp sau bức tường im lặng hay sử dụng sách lược "tự vệ và phủ nhận" khiến cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn và những sơ suất cứ tiếp tục xảy ra.
Kết quả một nghiên cứu quy mô - phối hợp giữa Đại học Havard, Cơ quan nghiên cứu chất lượng y tế Mỹ và Quỹ gia đình Henry J. Kaiser - tiết lộ những nạn nhân của sai lầm trong y khoa cứ tăng lên theo từng năm mà không hề có dấu hiệu giảm bớt.
Theo đó, năm 2012, 44% trong số các bác sĩ phẫu thuật trẻ tuổi - từ 27 đến 36 - thường mắc các sai lầm lớn nhiều hơn trong phòng mổ do thiếu tập trung trong công việc do họ hay trò chuyện, nghe điện thoại di động hay sao nhãng do các âm thanh khác gây nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân




