Chuỗi xuân đổ hạt môi hồng

Thứ Hai, 16/02/2026, 12:16

Ngoài đường phố nhộn nhịp với đường hoa đón xuân, trong khi đó vừa chạm tới đầu ngõ, tôi đã nghe âm vang giọng đào liễu cất lên trong trẻo mơ màng. Nghe như âm thanh đang trôi về chốn hư không thơ mộng, làm tan đi những ồn ã vây quanh. Tôi bước nhẹ gót chân trong tiếng phách giòn tan từ ngôi nhà cổ cuối ngõ. Nơi đây từ lâu được coi như một Đình quán của những kép đàn, đào hát Thái Hà trên đất Thăng Long, bảy đời dõi nghiệp.

Chập chờn, ru tỉnh, ru mê

Chúng tôi hò hẹn mãi mới có cuộc hội ngộ này, bởi gặp được hai anh em Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nguyễn Văn Khuê (sinh năm 1962) và Nguyễn Thúy Hoài (sinh năm 1974) không dễ. Hiếm có gia đình nào, bốn bố con đều được công nhận danh hiệu nghệ nhân cao quý thuộc dòng họ Nguyễn ở tại làng Thụy Chương cổ thành xưa (nay là đường Thụy Khuê, Hà Nội).

Đứng đầu hệ thứ 5 của dòng họ là Nghệ nhân Nhân dân (NNND) Nguyễn Văn Mùi. Ngay lập tức tôi bị cuốn hút vào tiếng đàn Đáy của NNƯT Nguyễn Văn Khuê hòa điệu trong lời ca của NNƯT Thúy Hoài. Giọng hát như đang nghẹn lại trong lời ru trách cứ ai hoài. Tôi sững người trong cảm giác trĩu nặng: “Chập chờn ru tỉnh ru mê/ Mong chàng thoát mộng quay về bến sông…”.

Chuỗi xuân đổ hạt môi hồng -0
NNND Nguyễn Văn Mùi (bên trái) biểu diễn cùng hai con, NNƯT Nguyễn Thúy Hoài và NNƯT Nguyễn Văn Khuê.

Hình dung trong tôi về những cô đào hát một thời luôn luôn thanh tú và sang trọng. Bởi gia đình tôi đã từng ở Khâm Thiên, từ trước 1954 nên khá quen biết tới những ca đình quán và nhà hát cô đầu ngày đó. Bố tôi luôn dặn rằng, khi gặp các ca nương không được vô lễ. Bởi đó là những nghệ sĩ thứ thiệt, có học hành chữ nghĩa chứ không như những cô đào rượu.

Ông còn nói, cô đào hát nào cũng đẹp và thanh cao với những nét phiêu bồng: “Mặt tròn thu nguyệt/ Mắt sắc dao cau/ Vào, duyên khuê các/ Ra, vẻ hồng lâu/ Lời ấy gấm - Miệng ấy thêu/ Dịu như mai-Trong như tuyết…”. Quả nhiên, tôi ngồi thừ trước “Gương trăng mắt huyền” và sắc màu lung linh từ tà áo the đen lấp ló ánh đỏ phía trong mà ca nương Thúy Hoài đang vận. Đúng là: “Phàn Tố mở miệng hoa đào/ Hàn Dực say đắm/ Tiểu Man uốn lưng cành liễu/ Nguyễn Chẩn say lòng”. Phàn Tố, Tiểu Man là những danh ca và vũ nữ đẹp nổi tiếng thời Đường. 

Tiếp nối cảm xúc của tôi, nghệ nhân Nguyễn Văn Khuê tủm tỉm cười rồi kể, một thời nhà văn Nguyễn Tuân (1910-1987) đã từng “ăn dầm ở dề” cả tháng tại nhà hát cô đầu. Ông ấy tối nào cũng chơi trống cầm chầu, nghe hát và say tít mù. Chính vì thế, nhà văn Nguyễn Tuân viết ra kiệt tác “Chùa Đàn” hồi năm 1945. Câu chuyện kể say sưa về đào Tơ và kép Bá Nhỡ thật liêu trai và có phần ma quái. Nhiều nhà văn, nhà thơ khác cũng bám riết những cô đào tâm đắc như các tác giả Đái Đức Tuấn, Kim Lân, Thạch Lam, Đinh Hùng, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… Ai nấy đều có tác phẩm viết về những thân phận đào liễu.

Chưa hết, nghệ nhân Nguyễn Văn Khuê còn nhớ chuyện tổ nghề ca trù đầu tiên trong gia tộc mình là Danh sĩ Thủ khoa Nguyễn Đức Ý (sinh năm 1820), xứng tài danh nho, thành thạo đàn trống và các làn điệu. Sinh thời, khi làm quan, cụ cùng các bậc trứ tác khác như Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Nguyễn Khản, Nguyễn Du… đã viết nhiều bản ca trù. Không ít người trong số đó còn nuôi các cô đào để trình diễn trong cung hoặc hát chơi tại gia đình.

Ký ức chợt hiện về, nghệ nhân Thúy Hoài kể chuyện tổ nghề đời thứ ba của họ Nguyễn. Đó là ca nương Nguyễn Thị Tuyết đệ nhất kinh kỳ. Bà đã được Vua Thành Thái (1889-1907) đưa vào cung quản lý đoàn đào hát trong kinh thành. Sau này, đào nương Nguyễn Thị Tuyết được vua cấp cho đất tại ấp Thái Hà (Hà Nội) để xây Đình Ca công.

Giáo phường ca trù Thái Hà ra đời từ đó và nổi tiếng nhất Bắc kỳ. Lúc này, ca nương Thúy Hoài vẫn còn bâng khuâng với tay phách thanh thoát và tiếng đàn dạo khúc Tỳ Bà Hành (Bạch Cư Dị). Đôi mắt ca nương ngời sáng chợt trĩu buồn khi bắt giọng ngâm mưỡu mở đầu: “Bến Tầm Dương canh khuya hiu hắt/ Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu…”.

Chơi xuân kẻo hết xuân đi 

Tôi bồi hồi trong nỗi sầu được sẻ chia Tỳ Bà Hành qua giọng rung uyển chuyển của Thúy Hoài. Chị cho biết, bài hát luôn đòi hỏi ca nương phải nhập thần vào từng chữ, từng câu. Mỗi canh hát là sự hài hòa giữa ca nương với quan viên cầm chầu chính là những tác giả lời ca. Không ít trường hợp những văn nhân còn ứng tác ngay tại chỗ để ca nương  trình diễn.

Chính vì thế, trước kia nhiều văn nhân coi nhà hát Cô đầu là nơi lấy cảm hứng sáng tác và hội đàm thế sự. Tại những nơi này từng nảy sinh những mối tình tri âm tri kỷ như nhà báo Hoàng Tích Chu với cô Đốc Sao. Hay đáng kể nhất là mối tình si mê của nhà văn Nguyễn Tuân và ca nương nổi tiếng Chu Thị Năm…

Đó là những mối tình say đắm cùng với sự thăng hoa sáng tạo nghệ thuật. Nghệ nhân Thúy Hoài chợt nhớ tới câu chuyện tình xưa của ca nương Nguyễn Thị Huệ (Giáo phường Cựu Lâu, bên hồ Lục Thủy) với Chúa An đô vương Trịnh Cương (1686-1729). Nàng là một ca nương thanh sắc vẹn toàn được Chúa vời vào cung và ban danh hiệu Ngọc Kiều phu nhân. Hạnh phúc thật viên mãn giữa chàng thi sĩ tài hoa Trịnh Cương và ca nương xinh đẹp Nguyễn Thị Huệ.

Vào một năm thiên tai dịch họa ập tới thành Thăng Long, ca nương Nguyễn Thị Huệ đã bỏ tiền cân thuốc phổ độ dân sinh, cứu được rất nhiều người nghèo sống sót. Khi đã xế chiều, nàng đi tu trong chùa Cựu Lâu rồi mất trong thầm lặng ở tuổi ngoài 70. Nhớ ơn ca nương xinh đẹp Nguyễn Thị Huệ, dân quanh vùng đã xây ngôi đền thờ nàng tại phố Hàng Trống (hiện trong số nhà 82).

Bất ngờ, nghệ nhân Nguyễn Văn Khuê dạo những âm thanh réo rắt trên cung đàn. Đó là bản ca “Chơi xuân kẻo hết xuân đi” của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ (1778-1858). Một không gian thanh điệu mới lạ tràn ngập căn phòng âm nhạc. Tiếng hát Thúy Hoài cất lên bay bổng: “Em đến khi hoa rữa trăng tàn/ Xuân một khắc dễ nghìn vàng đổi chác.../ Nếu không chơi, thiệt mấy ai bù/ Nghề chơi cũng lắm công phu”.

Đàn thì nhấn nhá hòa với lời ca thôi thúc. Nhịp điệu xuân hát nói dậy sóng đời. Tôi thật sự ngạc nhiên khi nghệ nhân Thúy Hoài bày tỏ sự thông thạo của mình về 80 bài thơ hát nói của Nguyễn Công Trứ. Chị cho biết, Giáo phường Thái Hà (nay là CLB ca trù Thái Hà) đã từng có chương trình trình diễn riêng về những bài ca của Nguyễn Công Trứ tại đình quán Đông Ngạc. 

Trong nhiều chuyến đi biểu diễn nước ngoài, chương trình biểu diễn của CLB Thái Hà luôn có sự hiện diện lời ca Nguyễn Công Trứ. Nhà thơ luôn tỏ ra chơi ngông trong cuộc đời nhưng lại kêu gọi thúc giục mọi người phải biết “Chơi xuân”. Nghệ nhân Thúy Hoài kể, Nguyễn Công Trứ đã viết hàng chục bài thơ xuân rạo rực tâm cảm: “Lần nữa xuân dương có mấy/ Bóng quang âm chơi lấy kẻo già” (Trong trần mấy mặt làng chơi).

Lời ca của Nguyễn Công Trứ luôn phơi phới trong làn điệu: “Dẫu ba vạn sáu ngàn ngày là mấy chốc/ Xuân một khắc, dễ ngàn vàng đổi chác” (Chơi xuân kẻo hết xuân đi). Đó là phong cách chơi xuân hết mình của nhà thơ, làm phấn khích tâm can người nghe. Cảm xúc chơi xuân luôn luôn tươi mới trong tâm hồn người ca nương mỗi khi rung phách trong tiếng nhạc rền vang. 

Chuỗi xuân đổ hạt môi hồng -0
Kép đàn Nguyễn Văn Khuê và ca nương Nguyễn Thúy Hoài.

Hồng Hồng Tuyết Tuyết

Tôi đang bồng bềnh với cảm xúc “Chơi là lãi” của Nguyễn Công Trứ thì đâu đó tiếng ai hát ngân vang trong vắt. Thấy tôi tò mò lắng nghe, kép đàn Nguyễn Văn Xuân cho biết, đó là những người con của bốn anh chị em ông đang luyện giọng ở phòng bên. Đây là thế hệ thứ 7 trong Giáo phường ca trù Thái Hà được nuôi dưỡng từ ngôi nhà số 27 Thụy Khuê, Hà Nội.

Trong số đó, ca nương Nguyễn Thu Thảo (sinh năm 1994), kép đàn Nguyễn An Khánh (sinh năm 2001) và ca nương Nguyễn Kiều Anh (sinh năm 1994) đều được làm lễ mở xiêm y với danh hiệu nghệ nhân chính thức trong gia tộc. Riêng kép đàn Nguyễn An Khánh không những tiếp nối những ngón đàn đáy độc đáo của cha (NNƯT Nguyễn Văn Khuê) mà còn có tài đánh trống chầu không khác gì ông nội (NNND Nguyễn Văn Mùi). Còn ca nương Nguyễn Thu Thảo đã sớm được huy chương vàng khi mới 10 tuổi. 

Tính tới nay, Giáo phương ca trù Thái Hà đã gìn giữ truyền thống trong gia tộc họ Nguyễn hơn 150 năm. Thật đúng là “Tài tử giai nhân hy sở ngộ” (tên bài ca trù do tổ thứ nhất Nguyễn Đức Ý sáng tác). Thì ra từ ngôi nhà cổ này luôn vang lên câu ca “Còn xuân mai lại còn hoa” (Nguyễn Công Trứ). Từ trên cao tiếng đàn đáy trẻ trung vọng ngân cuốn theo lời ca trong vắt: “Hồng Hồng Tuyết Tuyết/ Mới ngày nào còn chưa biết cái chi chi/ Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì/ Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu”. (Dương Khuê). Giấc mộng âm thanh bỗng ứ tràn trong tâm cảm cùng với tiếng trầm dịu dàng trên đường phố hoa xuân.

Vương Tâm
.
.