Điện ảnh Việt nhìn từ những kỷ lục phòng vé…
Những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển sôi động chưa từng có. Từ một thị trường từng bị phim ngoại lấn át, phim Việt giờ đây không chỉ giành lại thị phần mà còn liên tục lập nên những kỷ lục doanh thu đáng kinh ngạc.
Đặc biệt, giai đoạn 2025-2026, hàng loạt kỷ lục doanh thu phòng vé được thiết lập, đưa điện ảnh nội địa lên một vị thế mới. Tuy nhiên, đằng sau sự rực rỡ về thương mại ấy, một câu hỏi lớn vẫn hiện hữu: liệu điện ảnh Việt đã đủ chiều sâu để phát triển bền vững và vươn ra thế giới hay chưa?
Khi phòng vé Việt liên tiếp phá kỷ lục
Có thể nói, điện ảnh Việt từ bộ phim đầu tiên đạt doanh thu 100 tỷ đầu tiên “Để Hội tính” (2014) của đạo diễn Charlie Nguyễn đến nay đã có một bước tiến dài về tăng trưởng. Sau 12 năm, điện ảnh nội địa đã có 44 bộ phim vượt qua được cột mốc này và nó không còn là cột mốc khó chinh phục. Đặc biệt, năm 2025-2026 là minh chứng rõ ràng nhất.
Năm 2025, tổng doanh thu phòng vé Việt Nam đạt khoảng 6.000 tỷ đồng - một con số chưa từng có trong lịch sử. Đáng chú ý, phim Việt chiếm hơn 60% thị phần, đánh dấu bước ngoặt khi phim nội địa thực sự làm chủ sân nhà. Không còn là “hiện tượng đơn lẻ”, hàng loạt bộ phim đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng. Trong đó, phim “Mưa đỏ” đạt doanh thu kỷ lục cao nhất từ trước đến nay, 714 tỷ.
Bước sang năm 2026, đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì, không chỉ phim Tết mà tính đến nay, các bộ phim như “Tài”, “Quỷ nhập tràng 2”… vẫn cho thấy sức nóng của phòng chiếu chưa hề hạ nhiệt. Tính đến thời điểm hiện tại, chưa hết quý 1 của 2026, điện ảnh Việt đã có 6 bộ phim đạt doanh thu trên 100 tỷ. Điều thú vị là đường đua 100 tỷ có thêm những cái tên mới như Mỹ Tâm với phim “Tài” đang dẫn đầu doanh thu phòng vé.
Con số này tiếp tục có thay đổi trong tháng 4 với 7 bộ phim được trình chiếu, trong đó, có tới 5 phim cạnh tranh miếng bánh nhân dịp lễ Giỗ tổ Hùng Vương và 30 - 4 khiến đường đua phim Việt trong đợt nghỉ lễ dài thứ hai trong năm này trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết. Điều này cho thấy sức hút ngày càng lớn của phim nội địa. Khán giả sẵn sàng chi tiền ra rạp và ủng hộ phim Việt nếu sản phẩm đủ hấp dẫn. Rõ ràng, về mặt thương mại, điện ảnh Việt đang ở thời kỳ “rực rỡ” nhất từ trước đến nay.
Tuy nhiên, chính trong bức tranh đầy hứa hẹn ấy lại tồn tại một nghịch lý đáng suy nghĩ. Những bộ phim đạt doanh thu cao không đồng nghĩa là những bộ phim có chiều sâu nghệ thuật, có thể bước ra thế giới, chinh phục khán giả ngoại quốc hay các giải thưởng uy tín của các liên hoan phim. Ngoại trừ phim “Mưa đỏ” làm về chiến tranh, còn phần lớn các phim ăn khách hiện nay vẫn xoay quanh những công thức quen thuộc: hài - tình cảm - gia đình, hoặc các mô-típ kịch tính hoặc phim kinh dị dễ tiếp cận. Điều này giúp thu hút khán giả, nhưng cũng khiến điện ảnh Việt dễ rơi vào vòng lặp, thiếu đột phá.
Không ít bộ phim đạt doanh thu cao nhưng nhanh chóng bị lãng quên. Kịch bản đơn giản, nhân vật thiếu chiều sâu, thông điệp chưa đủ sức nặng - đó là những điểm yếu thường thấy. Trong khi đó, những bộ phim mang tính thử nghiệm hoặc có giá trị nghệ thuật lại gặp khó khăn trong việc tiếp cận khán giả và hệ thống phát hành. Sự phân hóa cũng ngày càng rõ rệt: một bên là các “siêu phẩm phòng vé” với chiến dịch quảng bá mạnh mẽ, bên kia là những dự án nhỏ gần như không có cơ hội cạnh tranh. Điều này đặt ra câu hỏi về tính bền vững của thị trường.
Theo tiến sĩ Ngô Phương Lan, sự tăng trưởng doanh thu là tín hiệu tích cực, nhưng chưa phản ánh đầy đủ sức mạnh của một nền điện ảnh. Bà nhấn mạnh rằng một nền điện ảnh trưởng thành phải có những tác phẩm mang giá trị lâu dài và có khả năng đại diện quốc gia trên trường quốc tế. Đạo diễn Phan Đăng Di lại nhìn nhận vấn đề từ góc độ hệ sinh thái. Theo anh, điện ảnh Việt hiện vẫn thiếu sự cân bằng giữa phim thương mại và phim nghệ thuật. “Chúng ta chưa xây dựng được một cấu trúc mà ở đó hai dòng phim này có thể cùng tồn tại và nâng đỡ nhau,” anh nhận định.
Ở góc độ sản xuất, diễn viên Ngô Thanh Vân nhấn mạnh rằng, để đưa phim ra thế giới, không chỉ cần nội dung tốt mà còn phải đạt chuẩn quốc tế về kỹ thuật, quy trình sản xuất và chiến lược phát hành. Điều này chúng ta còn có nhiều hạn chế, cần một chiến lược đầu tư bài bản, chuyên nghiệp hơn. NSND Đặng Nhật Minh - người có nhiều bộ phim dành các giải thưởng quốc tế đã nhiều lần chỉ ra điểm yếu cốt lõi của phim Việt, đó là vấn đề kịch bản. Theo ông, nếu không đầu tư nghiêm túc vào biên kịch, điện ảnh Việt sẽ khó có những tác phẩm đủ chiều sâu để tồn tại lâu dài.
Nhìn ra khu vực, có thể thấy sự khác biệt rõ rệt. Điện ảnh Hàn Quốc không chỉ thành công về thương mại mà còn tạo được dấu ấn toàn cầu với những tác phẩm như “Parasite” của Bong Joon-ho. Thành công này không đến từ may mắn, mà là kết quả của một chiến lược dài hạn, trong đó nội dung và con người được đặt ở vị trí trung tâm. Sự đa dạng về thể loại, từ sử thi đến nhìn lại lịch sử hiện đại, từ cổ trang đến hành động, từ kinh dị tâm linh đến tâm lý gia đình… đều được các nhà làm phim khai thác, phá vỡ các khuôn mẫu cũ kỹ hoặc giới hạn để chạm tới những giá trị thẩm mỹ mới và chinh phục thị hiếu khán giả nội địa lẫn quốc tế.
Mới đây, bộ phim "Quốc Bảo" (Kokuho), ra mắt năm 2025, là hiện tượng phòng vé Nhật Bản với doanh thu hơn 20 tỷ yên (khoảng 3.300 - 3.400 tỷ đồng), trở thành phim live-action ăn khách nhất lịch sử nước này. Tác phẩm dài 3 tiếng, khai thác nghệ thuật Kabuki, do Lee Sang Il đạo diễn và đã khởi chiếu tại Việt Nam. Phim được đề cử hạng mục "Hóa trang xuất sắc nhất" tại Oscar 2026.
Thành công của "Quốc Bảo" cho thấy sức hấp dẫn mạnh mẽ của nghệ thuật kể chuyện chất lượng cao trên màn ảnh rộng và sức mạnh của những chất liệu đậm chất truyền thống, bản địa đối với khán giả. Mới đây, giải Oscar dành cho Phim truyện quốc tế hay nhất đã gọi tên bộ phim đến từ Na Uy, “Sentimental Value” (Căn nhà ký ức - 2026). Đó là câu chuyện về những tổn thương trong gia đình và sự hàn gắn nhờ nghệ thuật (ở đây là điện ảnh)…
Điều này khẳng định ở các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy… câu chuyện doanh thu và nghệ thuật được cân bằng, giúp nền điện ảnh đi xa khỏi biên giới và định vị giá trị trên bản đồ điện ảnh thế giới. Điểm chung của các nền điện ảnh này là họ không chỉ chạy theo doanh thu, mà còn đầu tư vào chiều sâu nghệ thuật, câu chuyện, những yếu tố quyết định khả năng “đi xa” của một nền điện ảnh.
Điện ảnh Việt cần gì để bứt phá?
Có thể nói, với những bứt phá về mặt doanh thu, cho thấy điện ảnh Việt là một thị trường nhiều tiềm năng. Người Việt đã có thói quen ra rạp xem phim Việt. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy, điện ảnh Việt cần sự phát triển chiều sâu để tạo ra những giá trị.
Trước hết là câu chuyện kịch bản. Việt Nam có nguồn chất liệu dồi dào, nhưng việc chuyển hóa thành những câu chuyện hấp dẫn, giàu chiều sâu vẫn còn hạn chế. Đầu tư cho biên kịch cần được xem là ưu tiên hàng đầu. Tiếp đến là phát triển đội ngũ làm phim. Không chỉ đạo diễn, mà cả các vị trí như quay phim, thiết kế mỹ thuật, âm thanh… đều cần được đào tạo bài bản và tiếp cận chuẩn quốc tế.
Song song đó là việc tạo không gian cho phim nghệ thuật và phim độc lập. Một nền điện ảnh khỏe mạnh phải có sự đa dạng, nơi những thử nghiệm sáng tạo được nuôi dưỡng. Một trong những yếu tố quan trọng giúp điện ảnh Việt tạo dấu ấn trên trường quốc tế chính là bản sắc văn hóa.
Khán giả thế giới không tìm đến phim Việt để xem những câu chuyện giống Hollywood, mà để khám phá những góc nhìn mới, những trải nghiệm khác biệt. Do đó, việc khai thác các yếu tố văn hóa, lịch sử, đời sống Việt Nam một cách tinh tế và hiện đại sẽ là chìa khóa. Tuy nhiên, “bản sắc” không có nghĩa là sao chép hay minh họa đơn thuần, mà cần được kể lại bằng ngôn ngữ điện ảnh sáng tạo, phù hợp với thị hiếu toàn cầu.
Và điều chúng ta cần là chiến lược phát hành quốc tế. Trong thời đại số, phim Việt có nhiều cơ hội tiếp cận khán giả toàn cầu hơn bao giờ hết - nhưng điều đó chỉ xảy ra nếu sản phẩm đủ chất lượng. Theo nhà phê bình Lê Hồng Lâm, điện ảnh Việt đang tồn tại một nghịch lý: trong khi phim thương mại thường quá nội địa và khó tiếp cận quốc tế thì phim độc lập hoặc nghệ thuật lại đôi khi cố quốc tế hóa đến mức đánh mất bản sắc địa phương, khiến bộ phim xa lạ ngay cả với công chúng trong nước.
“Những phim thắng Oscar, đặc biệt là giải Phim quốc tế xuất sắc nhất, thường mang màu sắc địa phương nhưng lại có những thông điệp rất phổ quát. Dù cách kể khác biệt, tất cả các bộ phim đều chạm đến những vấn đề toàn cầu: bất bình đẳng, xung đột gia đình, khủng hoảng bản sắc, khoảng cách thế hệ và những tổn thương cá nhân rất con người”, anh khẳng định.
NSND Đặng Nhật Minh từng nói "Đi đến tận cùng của cái ta (dân tộc), ta sẽ gặp nhân loại". Khi nghệ sĩ đi sâu, thấu suốt bản sắc, văn hóa và tâm hồn riêng biệt của dân tộc mình, họ sẽ chạm đến những giá trị phổ quát của con người. Điện ảnh Việt cũng cần những giá trị ấy để phát triển và đi ra thế giới.

Mở lối xuất khẩu phim Việt
Thị trường phim Việt sau Tết: Khi cán cân nghiêng về phía “ông vua phòng vé”