Mỹ áp thuế 46% với hàng hóa từ Việt Nam: Còn không gian để trao đổi, đàm phán
Ngày 2/4, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã ban hành Sắc lệnh về thuế đối ứng áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước này. Liên quan đến nội dung này, chiều 3/4, ông Tạ Hoàng Linh, Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương đã chia sẻ với báo chí những quan điểm của Bộ Công Thương Việt Nam về vụ việc này.
PV: Hoa Kỳ vừa áp mức thuế lên tới 46% đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Bộ Công Thương có những đánh giá cụ thể ra sao sau lệnh áp thuế này?
Ông Tạ Hoàng Linh: Bộ Công Thương lấy làm tiếc khi Hoa Kỳ thông báo áp thuế 46% đối với tất cả các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 9/4 tới đây.
Việt Nam và Hoa Kỳ là hai nền kinh tế mang tính chất bổ trợ, cơ cấu xuất khẩu và ngoại thương của hai nước không cạnh tranh trực tiếp mà có sự bổ sung cho nhau, phù hợp với nhu cầu nội tại của mỗi nước. Hàng hóa Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ chủ yếu là cạnh tranh với các nước thứ ba, không cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp Hoa Kỳ trên thị trường Hoa Kỳ. Ngược lại, hàng hóa Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ còn tạo điều kiện để người tiêu dùng của Hoa Kỳ được sử dụng hàng hóa giá rẻ.
Trong thời gian vừa qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã xử lý hàng loạt các khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam, Ban hành Nghị định hạ thuế MFN, trong đó 13 nhóm hàng có lợi thế của Hoa Kỳ được hưởng lợi. Ngoài ra có rất nhiều dự án của Hoa Kỳ tại Việt Nam được quan tâm, giải quyết và tháo gỡ khó khăn vướng mắc.
Theo Thông báo của Nhà trắng, các mức thuế đối ứng mà Hoa Kỳ áp với các đối tác thương mại nhằm khắc phục bất công thương mại toàn cầu, đưa sản xuất trở lại nước này và củng cố an ninh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Được biết, các mức thuế sẽ được duy trì cho tới khi Hoa Kỳ xác định được mối đe dọa do thâm hụt thương mại và sự thiếu công bằng trong thương mại được giải quyết, được khắc phục hoặc giảm nhẹ.
Chính vì vậy, Bộ Công Thương cho rằng, giữa hai bên còn không gian để trao đổi, đàm phán, để đi tới một kết quả hai bên cùng có lợi.
Sáng nay, ngay sau khi Hoa Kỳ công bố áp thuế, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã có Công hàm đề nghị phía Hoa Kỳ tạm hoãn quyết định áp thuế để dành thời gian trao đổi, tìm giải pháp hợp lý cho cả hai bên.
Chúng tôi đang thu xếp một cuộc điện đàm giữa hai Bộ trưởng cũng như ở cấp kỹ thuật với các đồng nghiệp tại Cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) trong thời gian sớm nhất.

PV: Theo ông, Sắc lệnh này sẽ ảnh hưởng ra sao đến mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2025? Bộ Công Thương có giải pháp, khuyến nghị gì đến doanh nghiệp để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu?
Ông Tạ Hoàng Linh: Năm 2025, Bộ Công Thương đặt mục tiêu xuất khẩu tăng trưởng khoảng 12%, tương đương khoảng 450 tỷ USD. Mục tiêu này được đưa ra trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi và Việt Nam tận dụng các hiệp định thương mại tự do đã ký kết.
Trong trường hợp Việt Nam - Hoa Kỳ không tìm được giải pháp tích cực thì việc áp thuế này sẽ tạo tác động tiêu cực nhất định đến mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu.
Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề đã được Bộ Công Thương dự báo trước và có sự chuẩn bị. Bộ Công Thương cũng đã có những kiến nghị Kế hoạch hành động cụ thể với Chính phủ và khuyến cáo cho doanh nghiệp để có các bước đi cần thiết một khi vấn đề xảy ra.
Bộ Công Thương dự báo, trong thời gian tới, hoạt động xuất khẩu của chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, do đó, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và doanh nghiệp để thực hiện hiệu quả các giải pháp đề ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2025.
Hiện thực hóa mục tiêu nêu trên, Bộ Công Thương cho rằng, phía doanh nghiệp xuất khẩu cần tận dụng thế mạnh sẵn có đó là 17 Hiệp định thương mại tự do với trên 60 quốc gia, vùng lãnh thổ cùng 70 cơ chế hợp tác song phương.
Song song đó, các doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Thị trường Hoa Kỳ chiếm 13% lượng hàng nhập khẩu toàn cầu nhưng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đây là một lợi thế nhưng cũng là điểm yếu của hoạt động xuất khẩu. Việt Nam còn nhiều cơ hội để khai thác 87% thị trường còn lại của thế giới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nỗ lực mở đường xuất khẩu sang các thị trường mới còn nhiều dư địa.
Về phía Bộ Công Thương, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục thúc đẩy đàm phán các FTA với các thị trường mới Trung Đông, Mỹ La tinh, Trung Á và các thị trường mới nổi khác.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác xúc tiến thương mại và cải thiện cơ sở hạ tầng logistics nhằm giảm chi phí vận chuyển và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Ngoài ra, Bộ Công Thương cũng hướng tới mở rộng hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn trong công tác kết nối giao thương, xúc tiến xuất khẩu.
Về dài hạn, Việt Nam cũng sẽ phải tái cơ cấu nền kinh tế, đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, để đảm bảo phát triển nhanh và bền vững. Bởi, một nền xuất khẩu bền vững không thể chỉ dựa vào gia công, mà còn phải dựa trên trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để nền kinh tế có sức chống chịu bền bỉ hơn, giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài.

PV: Bộ Công Thương khuyến nghị các doanh nghiệp trong nước cần làm gì để giảm thiểu rủi ro từ các biến động thương mại quốc tế trong thời gian tới, thưa ông?
Ông Tạ Hoàng Linh: Trong bối cảnh Hoa Kỳ áp thuế đối ứng với các đối tác thương mại toàn cầu, để giảm thiểu rủi ro từ các biến động thương mại quốc tế, Bộ Công Thương khuyến nghị các doanh nghiệp trong nước.
Trước hết, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả các thị trường trọng điểm, thị trường truyền thống, cũng như phát triển các thị trường nhỏ, thị trường ngách và khai mở những thị trường tiềm năng mới. Đồng thời, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, lao động và môi trường của các thị trường xuất khẩu, nhằm tăng khả năng cạnh tranh và giảm nguy cơ bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Kiểm soát xuất xứ nguyên vật liệu: Chú trọng kiểm soát xuất xứ nguồn cung nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, đảm bảo tuân thủ các quy tắc xuất xứ trong FTA và tránh rủi ro liên quan đến gian lận thương mại.
Tăng cường năng lực phòng vệ thương mại. Các doanh nghiệp nâng cao nhận thức và khả năng ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại từ nước ngoài, thông qua việc cập nhật thông tin và tham gia các khóa đào tạo liên quan.
Chủ động cập nhật thông tin thị trường, thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về thị trường và chính sách thương mại của các quốc gia, để kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp.
Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tăng cường khả năng chống chịu trước những biến động của thương mại quốc tế và duy trì tăng trưởng xuất khẩu bền vững.
Xin cảm ơn ông!
Cơ hội tái cấu trúc chuỗi giá trị và thị trường
Ngày 3/4, bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thụy Điển, kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland, và Latvia cho biết, chính sách thuế mới của Hoa Kỳ tuy là một thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào Hoa Kỳ và các đơn hàng ngắn hạn.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy cho biết, thực tế cho thấy, thương mại toàn cầu vẫn chưa phục hồi hoàn toàn sau đại dịch và khủng hoảng năng lượng – nay lại đối mặt với một cú sốc mới từ chính sách bảo hộ của Hoa Kỳ.
Về tác động đến hàng xuất khẩu Việt Nam vào EU và Bắc Âu, bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy cho rằng, áp lực cạnh tranh gia tăng, nhưng cũng là cơ hội chiến lược. Song, trong bối cảnh toàn cầu đang tái định hình chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp Việt Nam cần đánh giá lại chiến lược xuất khẩu vào EU và Bắc Âu – khu vực vừa có tiềm năng tiêu dùng, vừa có khung hợp tác thương mại thuận lợi qua EVFTA.
Một yếu tố tích cực đáng chú ý là tỷ giá đang dịch chuyển theo hướng có lợi cho hàng Việt Nam. Cụ thể, đồng USD giảm giá trong khi đồng krona Thụy Điển tăng mạnh, với tỷ giá hiện ở mức 9,85 SEK/USD – cao nhất kể từ tháng 6/2022. Điều này đồng nghĩa với việc hàng hóa Việt Nam định giá bằng USD đang trở nên rẻ hơn đối với người tiêu dùng Thụy Điển, giúp cải thiện sức cạnh tranh về giá.
Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi này còn phụ thuộc vào khả năng doanh nghiệp Việt giữ giá ổn định và không điều chỉnh tăng giá USD đầu ra. Ngoài ra, một số nhóm ngành vẫn cần thận trọng: Dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ. Đây đều là các ngành có biên lợi nhuận thấp và dễ bị tác động bởi biến động chi phí nguyên liệu, logistics và nhu cầu tiêu dùng. Đặc biệt, trong bối cảnh lạm phát gia tăng tại châu Âu và Bắc Âu, người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu, khiến các mặt hàng không thiết yếu hoặc có giá trị gia tăng thấp dễ bị giảm đơn hàng hoặc ép giá. Do đó, dù tỷ giá đang tạo điều kiện thuận lợi, doanh nghiệp vẫn cần chủ động kiểm soát chi phí, giữ ổn định giá bán, đồng thời nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm để duy trì và mở rộng thị phần tại các thị trường cao cấp như Bắc Âu.
Bà Thuý cho rằng, giữa làn sóng rào cản thương mại và bảo hộ gia tăng, Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) trở thành lá chắn chiến lược giúp hàng hóa Việt giữ vững chỗ đứng tại châu Âu. Theo đó, những ngành hưởng lợi trực tiếp gồm: Dệt may, da giày; thủy sản, nông sản chế biến; đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ; thiết bị điện, điện tử. Đặc biệt tại Bắc Âu – nơi người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm bền vững, xanh và minh bạch – doanh nghiệp Việt có thể tăng lợi thế nếu đầu tư vào các chứng chỉ như eco-label, truy xuất nguồn gốc, hoặc xác minh carbon footprint.
Đồng thời, đây cũng là cơ hội tái cấu trúc chuỗi giá trị và thị trường. Bởi, chính sách thuế mới của Hoa Kỳ tuy là một thách thức lớn, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào Hoa Kỳ và các đơn hàng ngắn hạn. Chuyển đổi mô hình cạnh tranh từ giá rẻ sang chất lượng – bền vững – truy xuất nguồn gốc. Đầu tư vào tiêu chuẩn châu Âu như nhãn sinh thái (eco-label), carbon footprint, hay chứng chỉ CSR để gia tăng niềm tin từ người tiêu dùng Bắc Âu. Tối ưu hóa EVFTA – tận dụng ưu đãi thuế và định vị hàng Việt như “giải pháp thay thế đáng tin cậy” trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ đang tạo ra một biến động mang tính hệ thống với thương mại toàn cầu, có thể tạo ra làn sóng suy thoái và gián đoạn toàn cầu sâu rộng. Trong khi các quốc gia lớn vẫn còn tranh luận về cách phản ứng, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động thích ứng sớm.
EU và Bắc Âu – nhờ ổn định chính trị và khung hợp tác EVFTA – đang nổi lên như cửa ngõ chiến lược cho xuất khẩu Việt Nam. Điều quan trọng là doanh nghiệp không chỉ “vượt bão” mà còn tận dụng cơ hội để tái định vị hàng Việt trên bản đồ thương mại toàn cầu – không chỉ là rẻ, mà còn là chất lượng – xanh – đáng tin cậy.