Những xu hướng dự báo của năm 2026
Năm 2025 được đánh giá là năm biến động trên vũ đài ngoại giao. Bước sang 2026 với những diễn biến bất ngờ ngay từ đầu, Hội đồng quan hệ đối ngoại Mỹ đã tổng hợp các xu hướng trọng điểm có thể sẽ trở thành mấu chốt cho các hoạt động quốc tế trong năm.
Cuộc cạnh tranh khoáng sản then chốt ngày càng gay gắt
Năm 2025, các khoáng sản then chốt đã tái định hình cục diện địa chính trị. Trong danh sách mới nhất của Cục Khảo sát địa chất Mỹ, đất hiếm và 60 loại khoáng sản được liệt kê là khoáng sản then chốt liên quan đến an ninh quốc gia và an ninh kinh tế. Những khoáng sản này có vai trò sống còn đối với quốc phòng và công nghiệp dân dụng, nhưng nguồn cung lại thiếu sự bảo đảm. Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA) dự báo đến năm 2030, nhu cầu toàn cầu đối với phần lớn các khoáng sản then chốt sẽ tăng mạnh.
Ngay từ nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, ông Donald Trump từng đưa ra các biện pháp liên quan. Chính quyền Tổng thống Joe Biden tiếp tục mở rộng những biện pháp này và trong nhiệm kỳ 2, ông Trump đã 2 lần ban hành chính sách nhằm tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng khoáng sản then chốt. Những nỗ lực này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại và chính sách công nghiệp của chính quyền Tổng thống Trump trong năm 2026. Tuy nhiên, trong bối cảnh cấu trúc an ninh khu vực không ngừng thay đổi và cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, tốc độ tiến triển, tính bền vững cũng như xu hướng cuối cùng của Mỹ trong việc đảm bảo an ninh chuỗi cung ứng khoáng sản then chốt vẫn còn nhiều bất định.
Chi phí thuế tiếp tục do người tiêu dùng gánh chịu
Bước sang năm 2026, xu hướng chính sách thuế quan của chính quyền ông Trump cũng như tác động của các chính sách này vẫn là yếu tố khó lường lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. Liệu Tòa án Tối cao Mỹ có bác bỏ thuế đối ứng, các hiệp định thương mại có bị đàm phán lại, cũng như nỗi lo của người dân đối với giá cả và quan ngại của giới công nghiệp về năng lực cạnh tranh có dẫn đến việc miễn trừ trên diện rộng hay không đều là những ẩn số.
Có một vấn đề gây tranh cãi lâu nay, đó là thuế quan cuối cùng sẽ do ai nộp? Trên thực tế, mặc dù thuế quan do các nhà nhập khẩu Mỹ nộp, nhưng họ có thể gây áp lực buộc các nhà xuất khẩu nước ngoài giảm giá để chuyển một phần chi phí, hoặc thông qua việc tăng giá để chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng Mỹ.
Theo phân tích của các nhà kinh tế tại ngân hàng Goldman Sachs, sau khi ông Trump tuyên bố tăng thuế vào ngày 2/4/2025, các nhà nhập khẩu Mỹ gánh chịu 64% chi phí thuế quan vào tháng 6, trong khi các nhà xuất khẩu nước ngoài chỉ gánh 14% và người tiêu dùng Mỹ gánh 22%. Tuy nhiên, đến tháng 10, chi phí mà các nhà nhập khẩu gánh chịu giảm xuống còn 27%, các nhà xuất khẩu tăng lên 18%, trong khi phần chi phí thuế quan mà người tiêu dùng phải chia sẻ tăng mạnh lên 55%. Điều này phù hợp với xu hướng số liệu lạm phát liên tục tăng dần.
Tình hình phân bổ chi phí thuế quan trong năm 2026 vẫn sẽ phụ thuộc vào sự điều chỉnh mức thuế suất cũng như các hạng mục thuế mới được bổ sung hoặc miễn trừ. Thế nhưng, dựa trên giả thuyết về việc chính sách thuế quan duy trì được sự ổn định, các dữ liệu liên quan cho thấy đến giữa năm 2026, tỷ lệ chi phí thuế quan do nhà nhập khẩu gánh chịu có thể giảm xuống chỉ còn 8%, trong khi phần do người tiêu dùng gánh chịu sẽ tiếp tục tăng lên 67%.
Xét cho cùng, người tiêu dùng Mỹ sẽ trở thành nạn nhân lớn nhất của thuế quan dưới thời Trump 2.0, và lạm phát do thuế quan cũng sẽ ngày càng rõ rệt. Kịch bản lý tưởng nhất là người tiêu dùng giảm chi tiêu ở mức vừa phải, vừa có thể kiềm chế giá cả tăng cao, vừa không đẩy nền kinh tế vào suy thoái. Kịch bản tồi tệ nhất là nền kinh tế đình trệ do lạm phát, tức là tình trạng lạm phát cao cùng tồn tại với suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, tin tốt là thảm họa này hoàn toàn do con người tạo ra. Do đó, chỉ cần bãi bỏ những loại thuế quan không mang lại lợi ích cho an ninh quốc gia và năng lực cạnh tranh, rủi ro này có thể được hóa giải.
Sự chấm dứt của kỷ nguyên kiểm soát vũ khí
Tháng 2/2026, hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân cuối cùng còn tồn tại giữa Mỹ và Nga sẽ hết hạn. Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (New START) nhằm duy trì ổn định chiến lược và tránh xảy ra một cuộc chạy đua vũ trang mới, chưa biết có thể được gia hạn hay không.
Đến năm 2026, Mỹ và Nga sẽ sở hữu 87% số vũ khí hạt nhân trên toàn cầu. Cùng với New START hết hiệu lực, kho vũ khí hạt nhân của 2 nước sẽ không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào và hai bên cũng không còn nghĩa vụ minh bạch. Các hiệp ước kiểm soát vũ khí trước đó như Hiệp ước bầu trời mở, Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung, Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo đều lần lượt mất hiệu lực. Hiện chỉ còn Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân tạo ra sự ràng buộc pháp lý đối với 2 nước, nhưng hiệp ước này không hạn chế số lượng vũ khí hạt nhân được triển khai.
Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ chỉ ra rằng sau khi New START hết hiệu lực, trong 10 năm tới, số lượng đầu đạn hạt nhân được triển khai của Mỹ và Nga có khả năng vượt quá 6.000 đầu đạn. Nếu Mỹ và Nga tiếp tục mở rộng triển khai vũ khí hạt nhân, thì có thể kích thích các quốc gia khác không ngừng nâng cao sức mạnh hạt nhân, từ đó làm gia tăng rủi ro sử dụng vũ khí hạt nhân và xác suất xảy ra sự cố hạt nhân. Triển vọng năm 2026, nhiều khả năng trên toàn cầu sẽ không còn sự kiểm soát vũ khí hạt nhân nữa.
Sự trỗi dậy của “quốc gia điện lực”
Năm 2025, trong lĩnh vực chính sách năng lượng và khí hậu toàn cầu xuất hiện thuật ngữ mới - “quốc gia điện lực”. Khái niệm này tương ứng với “quốc gia dầu mỏ”, và Trung Quốc chính là đại diện tiêu biểu của “quốc gia điện lực”.
Hàm ý thứ nhất của “quốc gia điện lực” được thể hiện ở tỷ trọng điện năng trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng cuối cùng của một quốc gia. Thông thường, các quốc gia có thu nhập cao có mức độ điện khí hóa cao hơn, bởi trong cơ cấu kinh tế của họ, tỷ trọng các ngành trực tiếp tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch như nông nghiệp, khai khoáng và chế tạo thấp hơn, trong khi các ngành dịch vụ chủ yếu tiêu thụ điện năng chiếm tỷ trọng lớn. Theo quy luật này, là một quốc gia có thu nhập trung bình, tỷ trọng tiêu thụ điện năng của Trung Quốc lẽ ra phải thấp hơn châu Âu và Mỹ, nhưng trong những năm gần đây, mức độ điện khí hóa của nước này đã vượt qua châu Âu và Mỹ.
Một phần nguyên nhân khiến Trung Quốc đạt được bước đột phá này nằm ở quá trình điện khí hóa nhanh chóng trong lĩnh vực giao thông vận tải. Năm 2025, trong số xe du lịch bán ra tại Trung Quốc, tỷ lệ xe điện đã vượt quá 50%, và dự kiến đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ tăng lên 73%.
Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi điện khí hóa, Trung Quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng và nâng cấp lưới điện, qua đó đặt nền tảng cho sự tăng trưởng bùng nổ phát điện từ năng lượng tái tạo. Hiện nay, sản lượng điện từ năng lượng tái tạo đã chiếm hơn 1/4 tổng sản lượng điện của Trung Quốc, gấp đôi so với 3 năm trước.
Ngành công nghiệp năng lượng mặt trời của Trung Quốc giải thích hàm ý thứ hai của “quốc gia điện lực”, tức là thuộc tính của một quốc gia xuất khẩu sản phẩm năng lượng. Tấm pin mặt trời, xe điện và pin đã trở thành 3 mặt hàng mới trong xuất khẩu của Trung Quốc và chiếm vị trí chủ đạo trong thương mại toàn cầu về tấm pin mặt trời cũng như toàn bộ chuỗi sản xuất liên quan. Các module quang điện của Trung Quốc có chất lượng tốt, giá rẻ đang giúp các nước phát triển như Brazil, Pakistan, Nam Phi... giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.
Phụ nữ là nhóm chịu ảnh hưởng nặng nhất từ cắt giảm viện trợ
Trong bối cảnh số lượng xung đột toàn cầu lập mức cao kỷ lục, việc chính quyền Tổng thống Trump cắt giảm mạnh viện trợ nước ngoài khiến hệ thống viện trợ quốc tế rơi vào hỗn loạn.
Việc cắt giảm viện trợ này khiến sức khỏe và an toàn của hàng chục triệu phụ nữ và trẻ em gái đối mặt với mối đe dọa trực tiếp. Theo ước tính của Liên hợp quốc, hiện nay có 676 triệu phụ nữ đang sống trong các khu vực xung đột. Tình hình bất ổn làm gia tăng bạo lực tình dục liên quan đến xung đột, tình trạng thiếu lương thực và khó khăn kinh tế. Phụ nữ phải rời bỏ nhà cửa và tị nạn và trở thành nạn nhân của bạo lực, bao gồm tảo hôn, hiếp dâm, bóc lột tình dục, bóc lột lao động, buôn người.
Viện trợ phát triển và viện trợ nhân đạo là những lĩnh vực chịu cú sốc nghiêm trọng nhất. Ngoài một số chương trình quan trọng như Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Mỹ về phòng, chống AIDS, phần lớn viện trợ phát triển của Mỹ đã bị hủy bỏ và Cơ quan phát triển quốc tế cũng bị đóng cửa. Không chỉ Mỹ, trong năm nay, các quốc gia như Pháp, Đức và Anh cũng tiếp tục cắt giảm viện trợ nước ngoài. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, nếu xu hướng này không được đảo ngược, đến năm 2030, việc cắt giảm viện trợ của Mỹ và châu Âu có thể gây ra 22,6 triệu ca tử vong lẽ ra có thể tránh được. Mặc dù các cuộc đàm phán ngân sách vẫn đang diễn ra, nhưng có rất ít khả năng viện trợ nước ngoài sẽ tăng mạnh trở lại trong năm 2026.
Kinh tế toàn cầu hậu thuế quan cân bằng lại
Điều bất ngờ lớn đối với nền kinh tế toàn cầu trong năm 2025 là ông Trump thực sự đã làm đúng như những gì từng cam kết trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ. Cho đến nay, nền kinh tế thế giới đã chịu ít tác động hơn nhiều so với dự đoán từ các biện pháp như nâng thuế quan trung bình của Mỹ lên mức cao nhất kể từ những năm 1930. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo tăng trưởng hơn 3% vào năm 2026 và thị trường chứng khoán toàn cầu gần đây đã chạm mức cao kỷ lục.
Khả năng chống chịu này phần nào đến từ việc các quốc gia khác đã chọn không trả đũa việc Mỹ tăng thuế quan và tiếp tục giao dịch với nhau theo các điều khoản của Tổ chức Thương mại Thế giới. Các yếu tố bù đắp khác bao gồm sự bùng nổ đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) ở Mỹ, việc nới lỏng “ngưỡng phanh nợ” của Đức và đồng USD suy yếu. Một câu hỏi then chốt cho năm 2026 là liệu những lực lượng này có tiếp tục cân bằng những tác động tiêu cực từ các hành động của ông Trump đối với nền kinh tế Mỹ và toàn cầu hay không? Một kịch bản có thể xảy ra là sự điều chỉnh mạnh của thị trường tài chính, thậm chí là sự sụp đổ - được khuếch đại bởi sự thu hẹp trên thị trường tín dụng tư nhân.
Một điểm sáng tiềm năng là ông Trump có thể bị hạn chế trong việc sử dụng thuế quan bởi các phán quyết của Tòa án Tối cao và việc đảng Dân chủ nắm quyền kiểm soát cơ quan lập pháp Mỹ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11. Một điểm sáng khác là việc các nước - ngoài Mỹ và Trung Quốc - ngày càng quyết tâm hợp tác củng cố một hệ thống thương mại và đầu tư mở, sử dụng công tác chuẩn bị cho hội nghị cấp bộ trưởng Tổ chức Thương mại Thế giới tiếp theo vào tháng 3/2026 làm bàn đạp.

Thế giới trong những lời nguyện cầu bỏng rát
Thế giới năm 2026 siết thuế và hàng rào thương mại