Đằng sau những “lá bùa” giúp lợn bệnh ra chợ

Thứ Bảy, 04/04/2026, 09:50

Hàng trăm tấn thịt lợn bệnh tuồn ra thị trường, len lỏi vào chợ dân sinh, vào bữa ăn học đường khiến dư luận hoang mang. Điều đáng nói, chính những tờ giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), giấy kiểm dịch, dưới sự tiếp tay của các cán bộ cơ quan công quyền thoái hóa biến chất lại trở thành “tấm vé thông hành” cho các doanh nghiệp làm ăn bát nháo.

Làm đẹp hồ sơ bằng giấy tờ đạt chuẩn

Mới đây, Công an TP Hà Nội vừa triệt phá đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh quy mô lớn trên địa bàn. Các đối tượng đã cấu kết chặt chẽ, hình thành đường dây khép kín từ khâu thu gom lợn bệnh tại các tỉnh như Phú Thọ, Tuyên Quang vận chuyển về Hà Nội, giết mổ tập trung và đưa ra tiêu thụ trên thị trường. Bên cạnh đó, các đối tượng đã móc nối với một số cán bộ kiểm dịch để bỏ qua các khâu kiểm soát bắt buộc, cho phép lợn bệnh, thậm chí lợn đã chết được đưa vào giết mổ.

Từ đầu năm 2026 đến nay, các đối tượng đã tiêu thụ khoảng 3.600 con lợn mắc bệnh (tương đương gần 300 tấn). Số thịt này được đưa vào các chợ đầu mối, chợ dân sinh và bán cho Công ty TNHH Thực phẩm Cường Phát (Công ty Cường Phát) cung cấp thực phẩm cho một số trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội.

2-1.jpg -0
Trụ sở Công ty Cường Phát.

Vụ việc một lần nữa gây rúng động dư luận khi thịt lợn bệnh được tuồn vào nhiều trường học trên địa bàn. Hơn 2.900 trường học ở Hà Nội đã phải đồng loạt rà soát lại toàn bộ đầu mối cung cấp thực phẩm bán trú khiến phụ huynh không khỏi hoang mang.

Trong đó, có danh sách hàng chục trường tiểu học trên địa bàn thành phố sử dụng thực phẩm của Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội, đơn vị đã ký kết hợp đồng với Công ty Cường Phát.

Điều đáng nói, trong thông tin gửi báo chí, Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội cho rằng đã đặt niềm tin vào đối tác dựa trên các giấy tờ pháp lý, cam kết chất lượng và hệ thống chứng nhận an toàn thực phẩm được xuất trình. Trước khi ký kết hợp đồng, Công ty Cường Phát đã cung cấp đầy đủ hồ sơ pháp lý, giấy chứng nhận VSATTP. Trong quá trình nhập hàng, các lô thịt đều được kiểm tra cảm quan, đối chiếu dấu kiểm dịch, tem truy xuất nguồn gốc và chứng từ kèm theo; đồng thời, có sự giám sát của khách hàng sử dụng dịch vụ.

Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội cũng bày tỏ cam kết chỉ nhập và sử dụng nguồn thịt heo tươi, sạch từ các đơn vị cung cấp uy tín, có đầy đủ hồ sơ pháp lý và giấy chứng nhận VSATTP theo quy định.

Thế nhưng, trên thực tế, số thịt lợn bệnh đã đi qua nhiều tầng từ khâu vận chuyển, giết mổ, dấu kiểm dịch, nhà cung cấp cho tới bàn ăn học đường bằng những tờ giấy chứng nhận, giấy kiểm dịch làm đẹp hồ sơ.

Quả thật, để có một tờ giấy chứng nhận VSATTP không khó. Dịch vụ tư vấn, làm giấy chứng nhận trọn gói được quảng cáo rầm rộ trên mạng xã hội. Một công ty luật cho biết, làm giấy VSATTP trọn gói cho hộ kinh doanh chỉ từ 5-6 triệu đồng, từ 15- 20 ngày có giấy phép VSATTP. Một công ty luật khác quảng cáo đã có hơn 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn giấy phép VSATTP cho hàng nghìn khách hàng và mang lại hiệu quả công việc tốt nhất cho Khách hàng; đồng thời, công bố bảng giá chỉ từ 22 triệu đồng cho một giấy chứng nhận VSATTP đối với công ty, doanh nghiệp; 11 triệu đồng đối với hộ kinh doanh.

Việc dễ dàng làm giấy chứng nhận VSATTP hay giấy kiểm dịch tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được “tấm vé thông hành” cho thực phẩm bẩn len lỏi ra thị trường. Vụ bê bối tại Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long (Hạ Long Canfoco) vào tháng 1/2026 liên quan đến việc hơn 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch tả lợn châu Phi được đưa vào sản xuất pa-tê, hay vụ việc tại Công ty Cường Phát mới đây, cùng nhiều vụ thực phẩm bẩn len lỏi vào bữa ăn học đường bị phanh phui thời gian vừa qua cho thấy một nghịch lý: Doanh nghiệp “đạt chuẩn trên giấy” nhưng phía sau lại làm ăn bát nháo.

Theo Luật Thú y 2015, kiểm dịch động vật có vai trò quyết định trong việc phát hiện, loại trừ lợn mắc bệnh ngay từ trước và trong quá trình giết mổ. Nếu khâu này được thực hiện đúng và nghiêm ngặt, về nguyên tắc, lợn bệnh sẽ không thể bước vào chuỗi cung ứng thực phẩm. Tuy nhiên, thực tiễn vụ việc tại Hà Nội cho thấy khi khâu kiểm dịch bị buông lỏng hoặc bị lợi dụng, lợn bệnh vẫn có thể được “hợp thức hóa” để đi tiếp vào các công đoạn sau.

Trong khi đó, theo Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 46/2026/NĐ-CP, khâu kiểm soát an toàn thực phẩm tại các cơ sở chế biến, phân phối và bếp ăn tập thể có trách nhiệm kiểm tra lại nguồn gốc, chất lượng nguyên liệu trước khi đưa vào sử dụng. Đây chính là “tuyến phòng thủ thứ hai”. Tuy nhiên, nếu các đơn vị chỉ dừng lại ở việc kiểm tra hồ sơ giấy tờ mà không có biện pháp kiểm soát thực chất thì nguy cơ thực phẩm bẩn vẫn lọt qua là rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh có hành vi làm giả hoặc hợp thức hóa giấy tờ.

Trong trường hợp thực phẩm bẩn, cụ thể là thịt lợn nhiễm bệnh, bị đưa vào bếp ăn trường học, trách nhiệm đầu tiên thuộc về nhà trường - cụ thể là hiệu trưởng và ban giám hiệu. Theo Điều 22, Luật An toàn thực phẩm 2010 và Thông tư số 16/2012/TT-BYT, cơ sở có bếp ăn tập thể phải bảo đảm điều kiện về nguồn nguyên liệu, cơ sở vật chất, con người và quy trình chế biến. Nhà trường là đơn vị ký kết hợp đồng cung cấp thực phẩm, trực tiếp tổ chức khâu lưu mẫu, kiểm tra chất lượng và quản lý khẩu phần cho học sinh, nên không thể phủ nhận trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng thực phẩm bẩn, ngộ độc hoặc vi phạm điều kiện vệ sinh.

Trường hợp để xảy ra hậu quả nghiêm trọng, hiệu trưởng và cá nhân liên quan có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Bên cạnh đó, việc xác định trách nhiệm của đơn vị trung gian như Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội không thể dừng lại ở việc họ “có giấy chứng nhận an toàn thực phẩm” hay tự nhận mình là “nạn nhân”, mà phải được xem xét trên toàn bộ nghĩa vụ pháp lý trong chuỗi cung ứng. Các giấy tờ này chỉ có giá trị tham khảo và là một phần của quy trình kiểm soát, nhưng không thay thế nghĩa vụ thẩm định, lựa chọn và giám sát nhà cung cấp một cách thực chất. Nếu đơn vị trung gian không thực hiện đầy đủ việc đánh giá năng lực nhà cung cấp, không kiểm tra thực tế nguồn hàng hoặc buông lỏng kiểm soát đầu vào, thì vẫn bị coi là có lỗi trong việc để xảy ra hậu quả.

Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm pháp lý sẽ phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Trong trường hợp doanh nghiệp chứng minh được rằng họ đã thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra theo quy định, lựa chọn nhà cung cấp hợp pháp, có hồ sơ truy xuất rõ ràng và không có khả năng nhận biết thực phẩm bị làm giả hồ sơ hoặc bị gian lận ở khâu trước đó thì có thể được xem xét là bên bị thiệt hại và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Khi đó, trách nhiệm chính sẽ thuộc về các chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, như đơn vị cung cấp ban đầu hoặc cá nhân trong cơ quan kiểm dịch có hành vi tiếp tay.

Ngược lại, nếu có căn cứ cho thấy đơn vị trung gian biết hoặc buộc phải biết về rủi ro nhưng vẫn ký kết, tiếp nhận và sử dụng nguyên liệu không đảm bảo, hoặc không tuân thủ quy trình kiểm soát nội bộ theo quy định, thì hoàn toàn có thể bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm với vai trò đồng phạm hoặc chủ thể độc lập. Trong thực tiễn xét xử, tiêu chí “phải biết” (tức lỗi vô ý do cẩu thả hoặc thiếu trách nhiệm) là yếu tố rất quan trọng để xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp trung gian trong chuỗi thực phẩm.

2-2.jpg -0
Các đối tượng trong đường dây giết mổ, tiêu thụ lợn bệnh.

Lỗ hổng từ quản lý, cấp phép

Từ vụ án xảy ra tại Hà Nội với việc nhiều doanh nghiệp và cả cán bộ trong hệ thống quản lý bị khởi tố, có thể thấy rõ một thực tế: vấn đề không nằm ở việc thiếu quy định, mà nằm ở những “lỗ hổng vận hành” trong cơ chế cấp phép và kiểm soát VSATTP.

Lỗ hổng thứ nhất vẫn là cơ chế quản lý vẫn mang tính “tiền kiểm” nặng nề, trong khi hoạt động hậu kiểm chưa đủ thường xuyên và chưa đủ chiều sâu. Nhiều cơ sở sau khi được cấp phép không còn duy trì điều kiện như ban đầu nhưng vẫn sử dụng giấy phép như một công cụ bảo chứng khi giao dịch.

Thứ hai, quy trình cấp phép và kiểm dịch vẫn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người. Theo Luật Thú y 2015, việc kiểm dịch động vật bao gồm kiểm tra lâm sàng, đánh giá hồ sơ và trong một số trường hợp mới tiến hành xét nghiệm. Khi quyền đánh giá chủ yếu nằm ở cán bộ thực thi, nếu phát sinh tiêu cực hoặc có sự móc nối thì toàn bộ quy trình kiểm soát có thể bị vô hiệu hóa. Vụ việc cho thấy dấu hiệu rõ ràng của việc “hợp thức hóa” lợn bệnh thông qua giấy kiểm dịch được cấp không đúng thực tế.

Thứ ba, còn tồn tại lỗ hổng trong việc truy xuất nguồn gốc. Hiện nay, việc quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy hoặc các chứng từ rời rạc giữa các khâu. Khi hàng hóa đi qua nhiều tầng trung gian, từ cơ sở giết mổ đến Công ty Cường Phát rồi tiếp tục phân phối qua Công ty cổ phần Dịch vụ suất ăn công nghiệp Hà Nội, việc kiểm soát thực chất nguồn gốc trở nên rất khó khăn. Hồ sơ có thể “đúng” trên giấy, nhưng không phản ánh đúng dòng chảy thực tế của hàng hóa.

Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn chưa đồng bộ. Công tác quản lý an toàn thực phẩm hiện nay liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau như y tế, nông nghiệp, công thương, nhưng chưa có một hệ thống dữ liệu liên thông hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi cơ quan kiểm soát một khâu, nhưng thiếu sự kết nối để phát hiện sớm các bất thường xuyên suốt chuỗi.

Thứ năm, chế tài và cơ chế giám sát nội bộ đối với cán bộ thực thi chưa đủ sức răn đe trong thực tiễn. Mặc dù pháp luật đã quy định các tội danh như tội giả mạo trong công tác hay tội lạm dụng chức vụ quyền hạn, nhưng việc phát hiện vi phạm thường mang tính hậu quả, khi sự việc đã xảy ra trên diện rộng. Điều này cho thấy cơ chế phòng ngừa và kiểm soát quyền lực trong nội bộ vẫn còn khoảng trống.

Để bịt lỗ hổng, trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý theo từng khâu riêng lẻ sang quản lý theo chuỗi, trong đó mỗi chủ thể đều có trách nhiệm truy xuất và xác minh nguồn gốc thực phẩm một cách độc lập, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào giấy tờ của khâu trước.

Một giải pháp mang tính nền tảng là xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử bắt buộc, liên thông giữa các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Khi đó, thông tin về kiểm dịch, vận chuyển, giết mổ và phân phối sẽ được ghi nhận theo thời gian thực, hạn chế khả năng làm giả hoặc sửa đổi hồ sơ. Đây cũng là cách để giảm sự phụ thuộc vào xác nhận thủ công của cá nhân.

Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và kiểm tra đột xuất, đặc biệt tại các khâu trung gian như doanh nghiệp cung cấp suất ăn. Các đơn vị này phải chịu trách nhiệm thực chất về nguyên liệu đầu vào, kể cả khi đã có giấy kiểm dịch hoặc giấy chứng nhận an toàn thực phẩm từ nhà cung cấp. Việc kiểm tra phải gắn với chế tài đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe.

Cuối cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Cần thiết lập cơ chế giám sát độc lập đối với cán bộ thực thi, minh bạch hóa quy trình cấp phép và kiểm dịch, đồng thời áp dụng trách nhiệm cá nhân rõ ràng khi xảy ra vi phạm. Khi trách nhiệm được “định danh” cụ thể và không thể né tránh, nguy cơ tiêu cực trong hệ thống mới có thể được hạn chế đáng kể.

Ngọc Mai
.
.