Vụ trọng án được hóa giải sau gần 60 năm
Gần 60 năm sau vụ hiếp dâm và sát hại một bà lão 75 tuổi tại Anh, một mẫu ADN cũ kỹ trong hộp hồ sơ giúp cảnh sát tóm được thủ phạm khi đã 92 tuổi, dù lúc hắn gây án mới ngoài 30.
Không phải nhờ lời thú tội, nhân chứng mới hay đột phá ngoạn mục kiểu phim ảnh, mà bằng sự kiên nhẫn, đọc lại hàng nghìn trang tài liệu và một cuộc chạy đua thầm lặng với thời gian, công lý muộn màng cuối cùng đã được thực thi trong một trong những vụ “án lạnh” (án tồn đọng) ám ảnh nhất của cảnh sát Anh.
Khi khoa học pháp y đánh thức một hồ sơ bị lãng quên
Theo The Guardian, tháng 6/2023, Jo Smith, điều tra viên chuyên rà soát các vụ tội phạm nghiêm trọng của cảnh sát Avon và Somerset (Anh), được yêu cầu “xem lại vụ Louisa Dunne”. Louisa Dunne là một phụ nữ 75 tuổi, bị hiếp dâm và sát hại tại nhà riêng ở Bristol vào tháng 6/1967. Bà là mẹ của hai người con, là bà ngoại. Người chồng đầu tiên của bà từng là một lãnh đạo công đoàn có tiếng và ngôi nhà của bà đã từng là trung tâm của nhiều hoạt động chính trị. Đến năm 1967, bà sống một mình sau hai lần góa chồng. Louisa là gương mặt quen thuộc trong khu phố Easton nơi bà sinh sống.
Không có nhân chứng nào và cuộc điều tra của cảnh sát hầu như không thu được manh mối gì ngoài một dấu bàn tay in trên cửa sổ phía sau. Cảnh sát đã gõ cửa 8.000 hộ gia đình và thu thập 19.000 dấu bàn tay, nhưng không tìm được sự trùng khớp nào. Vụ án rơi vào bế tắc.
“Khi thấy hồ sơ đề năm 1967, tôi biết rằng cách duy nhất để phá được vụ này là dựa vào pháp y, nên tôi xuống kho lưu trữ để xem các thùng vật chứng”, Smith nói. Cô tìm thấy 3 thùng. “Tôi mở thùng đầu tiên ra rồi lập tức đậy nắp lại. Phần lớn những gì liên quan các vụ án lạnh đều được niêm phong trong túi pháp y, có mã vạch và số hồ sơ vụ án. Nhưng những thùng này thì không. Chúng chỉ có nhãn bằng bìa cứng màu nâu ghi chú sơ sài về nội dung. Điều đó có nghĩa là chúng chưa từng được giám định bằng các phương pháp pháp y hiện đại”.
Phần còn lại của ngày hôm đó, Smith cùng một đồng nghiệp, cả hai đều đeo găng, tiến hành cho các vật chứng vào túi pháp y và lập danh sách những gì có trong đó. Sau đó, suốt 8 tháng liền, không có thêm diễn biến gì. Smith ngừng lại. “Tôi khá hào hứng, nhưng sự hào hứng ấy không nhận được nhiều hưởng ứng. Nói ngắn gọn là có sự hoài nghi về giá trị của việc gửi những thứ cũ kỹ như vậy đi giám định pháp y. Nó không được coi là ưu tiên”, cô nói.
Trong các phim về “án lạnh”, một khi vật chứng được gửi đi giám định pháp y, kết quả thường quay lại chỉ sau vài ngày hoặc vài tuần. Còn ngoài đời thực, quá trình tiếp nhận và xét nghiệm kéo dài nhiều tháng. “Đội pháp y quan tâm, họ muốn làm, nhưng công việc của chúng tôi lúc nào cũng bị đẩy xuống hàng sau”, Smith nói. “Những vụ giết người đang diễn ra, khi đã có nghi phạm bị tạm giam, bị giam giữ hoặc có khả năng vẫn đang ngoài xã hội, thì luôn phải được ưu tiên”.
Cuối tháng 8/2024, Smith nhận được tin nhắn rằng bộ phận pháp y đã có hồ sơ ADN đầy đủ của kẻ hiếp dâm, trích xuất từ chiếc váy của nạn nhân Dunne. Vài giờ sau, cô nhận thêm một tin nhắn nữa. “Họ đã tìm được sự trùng khớp trong cơ sở dữ liệu ADN quốc gia và đó là một người vẫn còn sống”.
Nghi can Ryland Headley lúc này 92 tuổi, đã góa vợ, sống tại Ipswich. “Khi nhận ra ông ta đã lớn tuổi như vậy, chúng tôi không còn dư dả thời gian”, Smith nói. “Toàn bộ lực lượng phải vào cuộc”.
Trong 11 tuần từ lúc có kết quả ADN trùng khớp đến khi Headley bị bắt, cả nhóm đã đọc lại toàn bộ 1.300 bản lời khai và 8.000 hồ sơ gõ cửa từng nhà để xem Headley có từng xuất hiện trong cuộc điều tra ban đầu hay không (và câu trả lời là không). Một đồng nghiệp khác thì vùi đầu trong kho lưu trữ năm 1967 tại Tòa thị chính Bristol, dò tìm tên Headley, từng con đường, con phố. Đến ngày thứ ba tìm kiếm, anh ta phát hiện hồ sơ cho thấy Headley từng sống trong khu vực xảy ra án mạng.
Chỉ một thời gian, Smith có cảm giác như sống trong hai kỷ nguyên song song. “Chỉ cần nhìn những bức ảnh, thấy ngôi nhà của một bà lão năm 1967”, Smith nói. “Những bản lời khai nhân chứng. Cách họ mô tả con người. Ngày nay, thường sẽ là: Anh ta mặc đồ thể thao. Còn trong các lời khai khi đó là: Ông ta luôn mặc quần nâu, đeo cà vạt và mặc áo khoác. Có rất nhiều khác biệt thế hệ. Hàng xóm nói rằng: Tôi có nghe thấy tiếng động, nhưng ông hàng xóm phía sau nhà tôi lúc nào cũng đánh vợ, nên tôi nghĩ là chuyện đó”. Đó là cách nhìn phổ biến ở Anh trong những năm 1960. Ngày nay, chỉ cần động chân động tay với vợ hay chồng là cảnh sát đã xuất hiện ngay lập tức.
Smith cũng cảm thấy mình dần quen biết bà Dunne. “Louisa là một nhân vật rất nổi bật”, cô nói. “Rất nhiều người kể rằng họ thấy bà đứng trước cửa nhà số 58 đường Britannia mỗi ngày. Bà hai lần góa chồng, xa cách với họ hàng, nhưng không hề sống khép kín. Bà có một nhóm bạn phụ nữ thường xuyên gặp nhau để chuyện trò - chính họ là những người nhận ra có điều gì đó rất không ổn khi bà không ra trước cửa nhà như thường lệ và họ không thể liên lạc được với bà. Bà thực sự là một phần của đời sống khu Easton trong những năm 60. Trong một lời khai, có người nói: “Tôi không nghĩ bà ấy sẽ chịu đựng chuyện đó mà không chống trả”.
Phần lớn thời gian của nhóm điều tra viên dành cho việc đọc và tóm tắt hồ sơ. Cánh cửa duy nhất họ gõ là nhà Norman Taylor, bác sĩ gia đình, nay đã 89 tuổi, người từng có mặt tại hiện trường. “Chúng tôi đặt bản lời khai gốc của ông trước mặt và hỏi xem ông còn nhớ được gì về ngày hôm đó”, Smith nói. “Ông nhớ mọi chi tiết kể từ lúc bước qua cửa trước, rõ ràng như thể mới hôm qua. Ông nói: “Tôi làm bác sĩ cả đời và đã thấy rất nhiều xác chết, nhưng đó là trường hợp duy nhất ám ảnh tôi. Mỗi lần tôi lái xe qua khu vực đó ở Bristol, tôi đều nghĩ về Louisa và việc kẻ gây ra chuyện này vẫn còn chưa bị bắt”.
Những tiền án của Headley gần như không gây ra nghi ngờ nào về vụ trọng án này. Sau vụ giết Dunne, ông ta cùng gia đình chuyển đến Ipswich. Tại đây, năm 1977, ông ta nhận tội hiếp dâm hai phụ nữ, 79 và 84 tuổi, cũng ngay tại nhà riêng của họ. Những lời khai rợn người của các nạn nhân trong phiên tòa trước đó phần nào cho thấy những giây phút cuối cùng của Louisa Dunne. “Ông ta đe dọa sẽ bóp cổ người này và đe dọa sẽ bịt miệng người kia bằng gối”, Smith kể.
Cả hai phụ nữ đều chống trả, cố gắng cào vào mặt Headley, một người còn cố cắn ông ta. Dù ban đầu Headley bị tuyên án tù chung thân, ông ta đã kháng cáo, được một bác sĩ tâm thần ủng hộ với lập luận rằng Headley hành động khác thường do sự ức chế tình dục trong hôn nhân. Bản án từ chung thân giảm xuống còn 7 năm, và cuối cùng ông ta chỉ ngồi tù 4 năm.
Smith có mặt khi Headley bị bắt và không hề do dự khi gõ cửa nhà một ông già chậm chạp, có vẻ lẫn lộn. “Tôi biết ông ta trông thế nào, biết ông ta 92 tuổi, và cũng biết bằng chứng vững chắc đến mức nào”, cô nói. Cả nhóm lo ngại việc bắt giữ có thể gây ra một biến cố y tế. “Chúng tôi đang phơi bày bí mật đen tối nhất mà ông ta đã che giấu suốt gần 60 năm”, Smith nói. Cũng có khả năng là khi bị tạm giam, Headley sẽ bị đánh giá là không đủ năng lực để thẩm vấn, hoặc sau khi bị truy tố, không đủ sức khỏe để ra tòa. Nhưng cuối cùng, phiên tòa vẫn diễn ra vào tháng 6/2025.
Trải dài suốt 58 năm, đây được cho là vụ án lạnh kéo dài lâu nhất từng được phá ở Vương quốc Anh, và có thể là trên toàn thế giới. Tháng 11/2025, Smith và các đồng nghiệp được trao giải nhóm điều tra của năm tại hội nghị quốc gia dành cho các sĩ quan điều tra cao cấp. Với cô, mọi thứ vẫn mang cảm giác phi thường. “Nó cứ như không có thật,” cô nói. “Nó khiến tôi nổi da gà mãi”.
Với Smith, những vụ án như thế này là minh chứng rằng cô đã chọn đúng con đường sự nghiệp, vào thời điểm cha cô từng cố thuyết phục cô trở thành giáo viên tiểu học. “Ông ấy nghĩ nghề cảnh sát quá nguy hiểm”, cô nói, “nhưng còn điều gì tuyệt vời hơn việc phá được một vụ giết người xảy ra từ 58 năm trước?”
Công lý muộn và thất bại của một hệ thống
Ở thời điểm Ryland Headley bị bắt, mọi khái niệm quen thuộc về trừng phạt gần như sụp đổ. Một người đàn ông 92 tuổi, sức khỏe mong manh, ký ức có thể rạn nứt, không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội theo nghĩa thông thường. Nếu nhìn công lý thuần túy như sự báo ứng - gây đau đớn cho kẻ gây đau đớn - thì vụ án này đến quá muộn.
Nhưng chính sự “muộn” đó buộc xã hội phải đối diện với một câu hỏi khó hơn: công lý tồn tại để trừng phạt, hay để xác lập sự thật?
Trong trường hợp này, tòa án không còn là nơi cân đo năm tháng tù, mà là nơi chính thức hóa một điều đã bị treo lơ lửng suốt gần 60 năm: Louisa Dunne không chết trong im lặng, cái chết của bà có nguyên nhân, có thủ phạm, có tên gọi rõ ràng. Việc gọi đúng tên tội ác, hiếp dâm và sát hại, mang ý nghĩa đạo đức và lịch sử lớn hơn nhiều so với việc một ông già phải chịu thêm bao nhiêu năm cuối đời sau song sắt.
Công lý muộn không khép lại nỗi đau cho nạn nhân, vì nạn nhân đã không còn. Nhưng nó khép lại một lỗ hổng trong ký ức xã hội. Một xã hội để tội ác chìm vào quên lãng vì “quá lâu rồi” thực chất đang ngầm chấp nhận rằng thời gian có thể rửa sạch tội lỗi. Vụ án này phủ nhận điều đó. Nó khẳng định rằng: thời gian chỉ làm con người già đi, không làm tội ác vô hiệu.
Đây cũng là lý do vì sao việc xét xử, dù biết hung thủ có thể chết bất cứ lúc nào, vẫn cần thiết. Không phải để trả thù, mà để trả lại trật tự đạo đức: ai đã làm gì, với ai, và điều đó không bị xóa sổ chỉ vì lịch sử đã bước sang trang khác.
Nếu chỉ dừng lại ở việc “bắt được hung thủ”, câu chuyện sẽ rất gọn gàng và dễ chịu. Nhưng sự thật khó chịu hơn nhiều: Ryland Headley không tồn tại trong chân không. Ông ta được hệ thống “cho phép” tồn tại ngoài vòng pháp luật lâu hơn mức cần thiết.
Năm 1967, cảnh sát đã làm những gì họ có thể trong giới hạn thời đại: gõ cửa hàng nghìn nhà, thu thập hàng chục nghìn dấu tay. Nhưng điều đáng nói không nằm ở sự bất lực ban đầu, mà ở những gì diễn ra sau đó. Vật chứng tồn tại, nhưng không được ưu tiên. Hồ sơ được cất giữ, nhưng không được xem là đáng để quay lại. Nghi phạm từng sống trong khu vực, nhưng không được nối lại mảnh ghép.
Nghiêm trọng hơn, năm 1977, khi Headley bị kết án hiếp dâm hai phụ nữ cao tuổi, hệ thống tư pháp đã bỏ lỡ một cơ hội then chốt. Việc giảm án dựa trên lập luận “ức chế tình dục trong hôn nhân” không chỉ là sai lầm chuyên môn, mà phản ánh một hệ giá trị lệch lạc: đặt sự “khổ tâm” của thủ phạm cao hơn thân thể và nỗi sợ của nạn nhân. Khi đó, nhà nước không chỉ khoan dung, nhà nước đồng lõa một cách thụ động.
Trách nhiệm ở đây không phải để truy cứu những cá nhân đã nghỉ hưu hay qua đời, mà để nhìn thẳng vào một thực tế: tội ác tồn tại dai dẳng khi hệ thống chấp nhận những lý do để không nhìn sâu, không xử nghiêm, không ưu tiên. Headley không chỉ trốn tránh pháp luật, ông ta được hưởng lợi từ các kẽ hở của nó.
Theo điều tra viên Jo Smith, việc vụ án được phá sau gần 60 năm không nên được xem như chiến thắng tuyệt đối của công lý hiện đại, mà là lời nhắc nhở cay đắng: nếu không có công nghệ, sự thật có thể đã bị chôn vùi. Công lý không nên phụ thuộc vào may mắn khoa học, mà phải dựa trên một hệ thống có trí nhớ, có trách nhiệm và không bỏ rơi những vụ việc “không còn cấp bách”.

Vụ phá án bằng ADN lớn nhất lịch sử nước Ý