“Lũy thép” du kích giữa rừng sâu Belarus
Sau khi cha mẹ và các em bị Đức Quốc xã sát hại, những người anh em nhà Bielski còn lại quyết định rút vào rừng để thành lập đội du kích, chuẩn bị kháng chiến. Họ đã quy tụ và bảo vệ hơn 1.200 người Do Thái suốt những năm tháng khốc liệt của Thế chiến II. Cho đến khi chiến tranh kết thúc, đội du kích nhà Bielski đã tiêu diệt hàng trăm tên phát xít và giải cứu hàng ngàn người dân Belarus.
Mùa hè năm 1986, trong tiếng vỗ tay vang dội của những người đứng dọc đường, ba người đàn ông rụt rè tiến vào khách sạn Hilton ở Brooklyn. Một bữa đại tiệc đã được chuẩn bị để vinh danh họ, toàn bộ phòng khách sạn đều được đặt trước. Nhưng những nhân vật chính của buổi lễ liên tục phải dừng lại để đón nhận những lời cảm ơn. Dẫn đầu nhóm người là một ông lão 80 tuổi không nén nổi những giọt nước mắt. Ở Mỹ, ông chỉ là một tài xế xe tải bình thường. Thế nhưng, đối với những người đang vỗ tay tán thưởng kia, ông chính là một người chỉ huy dũng cảm, khôn ngoan, đã nỗ lực không ngừng nghỉ để giành lại sự sống cho họ từ tay tử thần.
Ông là Tuvia Bielski, cựu chỉ huy đội du kích Do Thái đã tập hợp hơn 1.000 người trong thời kỳ phát xít Đức chiếm đóng Belarus. Tháp tùng ông là hai em trai, Zus và Aron, những người đã sát cánh cùng ông chèo lái "con tàu cứu thế" vượt qua những năm tháng khốc liệt của Thế chiến II.
Gia đình nhà Bielski vốn là hộ Do Thái duy nhất tại làng Stankevichi, nằm giữa hai thành phố Lida và Novogrudok, gần rừng Naliboki ở Belarus. Chủ gia đình, ông David Bielski, là một thợ xay bột, cùng vợ là bà Bela đã nuôi dạy 11 người con. Trong những tháng đầu tiên của cuộc chiếm đóng, ngay trước khi khu tập trung (ghetto) Novogrudok được thành lập, ông bà David cùng cô con gái út và hai con trai nằm trong số 4.000 người Do Thái địa phương bị sát hại. Sau cái chết của cha mẹ, những người con lớn gồm Tuvia, Asael và Zus đã quyết định trốn vào rừng. Đi cùng với họ là một số người thân, sau này đã trở thành nòng cốt của đội du kích Bielski.
Ban đầu, đơn vị chỉ vỏn vẹn 17 người với vũ khí duy nhất là một khẩu súng ngắn không đủ cơ số đạn. Tuvia Bielski được chỉ định làm chỉ huy: ông có kinh nghiệm quân ngũ dày dạn. Trước năm 1939, khi Novogrudok còn thuộc lãnh thổ Ba Lan, Tuvia từng phục vụ trong quân đội Ba Lan và được phong quân hàm hạ sĩ quan.
Trong vòng một năm, cho tới tận tháng 8 năm 1942, đơn vị không có căn cứ cố định và liên tục di chuyển trong rừng để tránh bị phát hiện. Dần dần, họ đã thiết lập được liên lạc với khu tập trung Novogrudok và bắt đầu tổ chức các cuộc đào thoát. Một lợi thế đối với họ là trong thời gian đầu, khu tập trung này vẫn ở trạng thái "mở": Đức Quốc xã chưa thể ngay lập tức giam giữ toàn bộ 10.000 người Do Thái sinh sống trong vùng. Hơn nữa, việc cô lập hoàn toàn người Do Thái trong các khu tập trung vào thời điểm đó chắc chắn sẽ làm cho hoạt động kinh tế của thành phố bị tê liệt.
Tuy nhiên, các lệnh hạn chế ngặt nghèo đã được ban bố ngay lập tức: dưới sự đe dọa án tử hình, người Do Thái bị cấm tháo bỏ sao vàng trên trang phục, rời khỏi khu tập trung ngoài giờ làm việc nếu không có giấy phép đặc biệt, cũng như thay đổi nơi cư trú trong nội khu hay lai vãng đến các địa điểm công cộng bên ngoài. Vì sợ hậu quả, nhiều người đã chấp nhận ở lại khu tập trung, dù vào thời điểm đó, nơi này chưa có hàng rào dây thép gai.
Tuy phát triển chậm, nhưng đến cuối năm 1942, đội du kích nhà Bielski đã có khoảng 250 người. Nhiều người trong số đó được Aron, cậu em út trong nhà, đưa vào đội. Là một thiếu niên mới 12 tuổi khi chiến tranh nổ ra, Aron đã thâm nhập vào khu tập trung để thuyết phục đồng bào trốn vào rừng. Aron đồng thời đảm nhiệm vai trò liên lạc viên: anh thiết lập kết nối với các đơn vị khác và dân cư địa phương, thu thập tin tức về những người Do Thái đang ẩn náu hoặc bỏ trốn khỏi các khu tập trung lân cận để dẫn họ về căn cứ du kích. Trong nhật ký của mình, Tuvia Bielski viết như sau: "Chính Aron là người đã đem lại sức sống cho cộng đồng chúng tôi. Cậu ấy tìm thấy những người còn sống sót khác và đưa họ về khu vực của chúng tôi".
Ban đầu, đơn vị này không tham gia các hoạt động phá hoại, bởi mục tiêu chính của họ là giải cứu những đồng bào cùng đức tin. Tuy nhiên, khi quân số của đội tăng dần, các cuộc đụng độ với kẻ thù trở nên không thể tránh khỏi. Kết quả là nhờ các hoạt động chiến đấu của mình trong năm 1943, đội du kích Do Thái đã được công nhận chính thức và sáp nhập vào đơn vị du kích "Tháng Mười" thuộc Lữ đoàn Lenin và hoạt động tại khu vực Baranovichi.
Trong giai đoạn từ năm 1941 đến 1944, trước khi Belarus được quân đội Xô Viết giải phóng, đội du kích của anh em nhà Bielski đã tham gia 12 trận đánh lớn và tổ chức hàng chục cuộc phục kích. Kết quả là, khoảng 250 sĩ quan và binh lính địch thiệt mạng, hơn 15 khí tài quân sự bị phá hủy, 6 đoàn tàu chở quân và thiết bị của Đức bị phá hủy, 20 cây cầu bị đánh sập. Anh em nhà Bielski cũng mạnh tay trừng trị những kẻ cộng tác với Đức Quốc xã, dập tắt mọi âm mưu tố giác người Do Thái ngay khi chúng mới manh nha.
Một trong những cộng sự đắc lực nhất của anh em nhà Bielski là Konstantin Kozlovsky, một nông dân địa phương. Ông từng làm việc tại cối xay gió của gia đình họ và thậm chí đã học tiếng Yiddish. Trong thời kỳ chiếm đóng, ngôi nhà của ông trở thành trạm trung chuyển của những người Do Thái trốn khỏi khu tập trung Novogrudok. Konstantin đã che giấu họ, và sau đó đội du kích Bielski thường tuyển mộ những người được giải cứu vào đơn vị của mình. Ước tính Kozlovsky đã giúp giải cứu từ 300 đến 500 người Do Thái. Tuy nhiên, vào mùa xuân năm 1943, sau khi nhận tin báo của những kẻ phản bội, cảnh sát đã ập vào khám xét nhà ông khi có 3 trẻ em Do Thái đang nấp dưới hầm. Konstantin không có nhà, nhưng con trai út của ông đã bị đánh đập dã man, cảnh sát yêu cầu anh giao nộp những người đào tẩu.
Cuộc tra tấn tiếp tục cho đến khi anh bất tỉnh. Sau đó, gia đình Kozlovsky chạy trốn vào rừng để gia nhập lực lượng du kích. Năm 1993, Hội đồng Thẩm định thuộc Tổ chức Yad Vashem đã truy tặng danh hiệu cao quý "Người chính trực giữa các dân tộc" cho Konstantin Kozlovsky và hai con trai của ông là Gennady và Vladimir.
Mùa hè năm 1943, quân số đội du kích Bielski đã lên tới 750 người và được tách ra thành một đơn vị riêng thuộc lữ đoàn Kirov. Vào thời điểm này, đơn vị được chia làm hai nhánh chính: nhánh dân sự (dành cho gia đình) và nhánh tác chiến. Tuvia Bielski tiếp tục giữ vai trò chỉ huy trưởng. Asael đảm nhiệm chức vụ phó chỉ huy, trực tiếp phụ trách nhánh tác chiến. Zus phụ trách tình báo và phản gián, trong khi Aron tiếp tục làm liên lạc viên. Căn cứ của đội được đặt tại rừng Naliboki. Mùa thu năm 1943, phát xít Đức tiến hành các chiến dịch lớn chống lại đơn vị, sau khi những tù nhân cuối cùng còn sống sót đào thoát khỏi khu tập trung (ghetto) Novogrudok để gia nhập lực lượng du kích. Đây là một trong những cuộc giải cứu người Do Thái đông đảo và thành công nhất tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng.
"Chúng tôi biết rằng có khoảng một nghìn người Do Thái đã trốn vào rừng và đang sinh sống tại đó. Nhưng chúng tôi không thể hình dung được họ sẽ tồn tại thế nào giữa tuyết trắng, giá lạnh và thời tiết khắc nghiệt. Nhưng đến một lúc nào đó, chúng tôi nhận ra rằng thà sống như vậy còn hơn là ở lại đây để rồi nhận một viên đạn. Cuối cùng, chúng tôi bắt đầu nghĩ cách thoát khỏi ghetto và quyết định đào một đường hầm dưới lòng đất" - Raya Kushner, bà nội của Jared Kushner, con rể Tổng thống Mỹ Donald Trump, nhớ lại.
Các tù nhân đã đào một đường hầm dài 200 mét suốt 4 tháng. Họ tận dụng bất cứ dụng cụ có sẵn nào, kể cả thìa và dĩa, để bới từng tấc đất. Để đảm bảo lưu thông không khí, các ống dẫn nước được luồn vào lòng đất đã đào. Thậm chí, các tù nhân còn dẫn được ánh sáng xuống đường hầm bằng cách nối dây điện trực tiếp với đèn pha của cảnh sát. Cuộc vượt ngục diễn ra vào đêm 26 tháng 9 năm 1943. Tổng cộng 235 người đã lách qua đường hầm chật hẹp để thoát ra ngoài. Thật không may, bọn lính canh đã nhanh chóng phát hiện và nổ súng vào họ. Một cuộc truy quét đã được tiến hành ngay sáng hôm sau. Kết quả là, 151 người tới được căn cứ của quân du kích, trong đó có bà Raya Kushner. 95% những người gia nhập đội du kích Bielski đã sống sót qua chiến tranh và thảm họa diệt chủng Holocaust.
Sau khi khu vực đóng quân của họ được giải phóng, tháng 7 năm 1944, anh em nhà Bielski đã dẫn hơn 1.200 người ra khỏi khu rừng, trong đó chỉ có khoảng 150 người là du kích. Trong đoàn người được cứu sống có những người mẹ đang bế con nhỏ trên tay, những cụ già với gương mặt hằn sâu nỗi đau buồn và những đứa trẻ đã phải chứng kiến quá nhiều điều kinh hoàng.
Tại khu rừng này, họ đã xây dựng cả một thế giới: lò bánh mỳ, bệnh viện, trường học và một giáo đường Do Thái. Trong số những người được cứu sống có thợ rèn, thợ gốm, đầu bếp, thợ may, nhạc sĩ. Họ là một đại gia đình đã xây dựng một mái ấm đầy ánh sáng ngay giữa bóng tối mịt mù của chiến tranh.
Tháng 7 năm 1944, ngay sau khi thị trấn Novogrudok được giải phóng, một trong bốn anh em là Asael Bielski đã lên đường ra mặt trận và hy sinh anh dũng. Ba người anh em còn lại gồm Tuvia, Zus và Aron lần lượt di cư sang Ba Lan, sau đó là Palestine, nơi họ tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập của Israel. Vào giữa những năm 1950, họ chuyển đến Mỹ và sinh sống bằng nghề lái xe. Tuvia Bielski qua đời chỉ vài tháng sau cuộc gặp gỡ tại khách sạn Hilton. Một năm sau, hài cốt của ông được đưa về cải táng tại Jerusalem với nghi thức cấp quốc gia. Zus Bielski từ trần vào năm 1995, và vào tháng 9 năm 2025, người em út Aron - nhân chứng cuối cùng của anh em nhà Bielski - cũng đã ra đi mãi mãi.

Ernst Wollweber – từ thuỷ thủ đến Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia