Ông “Vua cầu treo”

Thứ Năm, 23/04/2009, 10:35
Năm 1995, Sáu Quý làm công trình cầu treo đầu tiên, cầu bằng gỗ bắc qua kênh số 13 (ấp Hưng Thạnh, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang - nơi Sáu Quý ở) để thay thế cây cầu khỉ. Từ đó đến nay, chưa đầy 15 năm, ông Sáu Quý đã làm được gần 150 cây cầu treo cho vùng nông thôn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Nhưng mấy ai biết, người nông dân đầu búi tó, chỉ bận đồ bà ba, cha đẻ của thương hiệu cầu treo miền Tây, có tên đầy đủ là Phạm Văn Quý ấy mới chỉ học hết lớp 2 trường làng…

Những cây cầu “thương hiệu” Sáu Quý

Sông Cửu Long ở Tây Nam Bộ dài 220km, chia làm 2 nhánh, sông Tiền và sông Hậu đổ ra biển Đông theo 9 dòng. Ngoài hệ thống sông ngòi rộng khắp còn có mạng lưới kênh rạch chi chít dài đến trên 5.700km, gồm cả kênh rạch tự nhiên và nhân tạo, được sinh ra do sự chủ động đào xẻ của con người để dẫn nước ngọt phục vụ tưới tiêu, sinh sống.

Việc đào kênh, xẻ rạch dẫn nước của người Nam Bộ đã làm dày thêm hệ thống kênh rạch vốn đã chi chít, dày đặc ở vùng đất này. Vì thế mà người Nam Bộ được gọi là cư dân của "văn minh kênh rạch". Có người nói, nếu có ai đó làm một điều tra xã hội học về mơ ước thiết thực nhất của người dân miền Tây, trong hàng ngàn câu trả lời, sẽ không ít người chọn những cây cầu...

Cầu treo Thoại Hà 2 do ông Sáu Quý xây dựng.

Hồi khánh thành cây cầu Mỹ Thuận - cây cầu nối liền hai bờ sông Tiền, cũng là nối liền Nam - Bắc miền Tây, người dân kéo về xem đông như ngày hội. Mới đây thôi, ngày thông xe cầu Rạch Miễu, người dân miền Tây cũng kéo về chứng kiến, khiến cầu Rạch Miễu bị kẹt xe suốt một thời gian dài, khiến lực lượng CSGT cố gắng hết sức mới giải tỏa được. Nói thế để thấy, những cây cầu quan trọng như thế nào trong đời sống, tâm thức của người dân miền Tây...

Trở lại chuyện ông "Vua cầu treo" Sáu Quý. Sáu Quý sinh năm 1963, tuổi Quý Mão, lớn lên miệt Châu Phú, một huyện nghèo nằm giữa thị xã Châu Đốc và thành phố Long Xuyên...

Câu chuyện về ông "Vua cầu treo” miền Tây bắt đầu từ con kênh mang số 13. Con kênh chắn ngay trước nhà Sáu Quý, cắt đôi xã Đào Hữu Cảnh, dài chưa tới 30m. Sáu Quý bắt đầu nghĩ đến cây cầu khi thấy con em chòm xóm, trong đó có những đứa con của mình phải đẩy xuồng qua sông để đến Trường tiểu học B Bình Phú, Châu Phú (An Giang), vừa nhọc nhằn, vừa nhiều nguy hiểm.

Nhưng Sáu Quý nghĩ, làm cầu tre, những ngày mưa thân tre trơn láng dễ làm trẻ em té xuống sông rất nguy hiểm; còn cầu lót ván phải cắm trụ dưới lòng kênh 13, khổ nỗi, khi ghe tàu đi ngang, nhất là loại xáng cạp hay đi nạo vét kênh mương nội đồng phục vụ tưới tiêu, phải tháo dỡ cầu. Đến mùa nước lớn, ngập sâm sấp sàn nhà, lại phải dỡ cầu để cho phương tiện tối ưu khi ấy là ghe lưu thông. Cần có một cây cầu vừa ít tốn kém, vừa có thể an toàn, không cản trở giao thông thủy và tồn tại lâu dài trở thành nỗi ám ảnh đối với Sáu Quý.

Rồi một đêm tình cờ xem truyền hình, thấy có những cây cầu treo bắc ngang sông, một cây cầu dây bắc qua sông suối phục vụ kháng chiến, Sáu Quý reo lên vui mừng, như gỡ được tảng đá đè nặng trên ngực. Sáu Quý tính toán, căng dây làm thử, cuối cùng mới trình bày với bà con chòm xóm để... gom góp tiền mua vật tư làm cầu. Dù nhiều người chưa tưởng tượng được cây cầu treo mà Sáu Quý trình bày sẽ như thế nào, nhưng vốn biết tính ông, bà con vẫn tin tưởng Sáu Quý sẽ làm được.

Thế là cây cầu đầu tiên hoàn thành trước sự ngỡ ngàng của bà con xã Đào Hữu Cảnh, cầu dây văng bằng sắt phi 6, có bề mặt rộng 1,2m bắc ngang kênh 13 dài gần 30m, ngay Trường tiểu học B, xã Bình Phú được xây dựng. Khỏi phải nói, khi đứng trước công trình đầu tiên, Sáu Quý mừng như thế nào. Cho tới nay, với riêng Sáu Quý, đấy vẫn là cây cầu mà ông tốn nhiều công sức nhất. Cũng từ khi ấy, Sáu Quý "cầu treo" bắt đầu được người ta biết đến. Có người gọi vui ông là "kỹ sư" làng...

Tiếp đến là cây cầu thứ 2, cũng nằm trên con đường ven kênh 13, ở đoạn có con kênh 10 vốn là ranh giới giữa hai xã Bình Phú và Đào Hữu Cảnh, cùng huyện Châu Phú. Ngày chưa có cầu, người dân đi tuyến đường này phải đẩy xe gắn máy xuống ghe chở qua bờ bên kia của con kênh 10 vừa rộng, vừa sâu. Với 42 triệu đồng, cây cầu treo có bề mặt 2m, dài hơn 40m hoàn thành. Cây cầu này đã được Sáu Quý tính toán cẩn thận với hai mố cầu đổ bêtông, buộc dây néo làm cáp treo trên đỉnh bốn trụ cầu xốc dưới mép sông rất chắc chắn...

Sau khi cây cầu thứ 2 hoàn thành, những "hợp đồng" mời Sáu Quý làm cầu liên tiếp đến do người ta nghe tiếng mà tìm đến, Sáu Quý nào dám trưng bảng, nào có công ty, khuếch trương "thương hiệu" gì. Nhiều huyện trên địa bàn tỉnh An Giang có cầu treo do Sáu Quý thiết kế, thi công. Các huyện như Châu Thành, Thoại Sơn, Tân Châu, Châu Phú đều có cầu treo "thương hiệu" Sáu Quý... Riêng tuyến kênh xáng Châu Thành - Tri Tôn có đến 4 cây cầu treo. Rồi tiếp theo là Mương Trâu, Ô Long Vỹ...

Sau khi quan sát, nghiên cứu từ mô hình cầu dây văng Mỹ Thuận, những chiếc cầu treo sau này đã được Sáu Quý cải tiến ngày càng chắc chắn, kiên cố hơn với những trụ bêtông thay trụ gỗ, dây văng căng ra trên đỉnh 4 trụ bêtông. Cầu treo Sáu Quý cũng hiên ngang trụ ở sông lớn...

Đầu tháng 2/2009, khi vừa hoàn thành công trình cầu treo dây văng Phú Vĩnh, Sáu Quý đã được Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cấp "Chứng nhận điển hình sáng tạo Việt Nam" về thành tích xây dựng cầu treo cho nông thôn ĐBSCL.

Kinh phí đều do dân đóng góp

Ông Sáu Quý có dáng ngồi rất ư Nam Bộ, chân bắt chéo, khăn rằn quấn cổ và mái tóc dài búi tó, ca vọng cổ mùi mẫn như kép cải lương. Nghe ông thao thao về cầu, về đà, về dầm, về trọng lực, về bêtông ly tâm, tôi ngồi nghe cứ ngỡ đây là kỹ sư có bằng cấp hẳn hoi.

Đến nỗi, tôi phải hỏi đi hỏi lại rằng, có thật ông mới học hết lớp 2 trường làng? Sáu Quý cười rồi bảo, lớp 2 ấy là anh "tính" như thế, chứ nào có thi cử, lớp lang như bây giờ. Thời niên thiếu của Sáu Quý, cả miệt Châu Phú này nào có mấy người học cao, cha mẹ anh cố gắng lắm mới cùng chòm xóm góp lúa lại thuê thầy về dạy học, cho con em họ chỉ đủ biết cái chữ.

Còn kiến thức về xây dựng? Tôi hỏi. Sáu Quý chỉ bảo: "Học. Cái gì mình không biết thì hỏi người ta. Mình hay xem truyền hình. Ngày xây dựng cầu Mỹ Thuận, cứ độ dăm bữa, mình lại lên coi, hỏi mấy người làm cầu. Thế là biết"!

Nói đến cầu treo Sáu Quý không thể không nói đến cầu treo Phú Vĩnh, đây là cây cầu thể hiện "đẳng cấp" riêng của ông, cây cầu nối liền hai huyện Thoại Sơn, Châu Phú, bắc ngang sông Long Xuyên.

Phát huy các công trình cầu treo bằng trụ điện cũ, các công trình mới sau này có quy mô lớn hơn, cầu Phú Vĩnh, Sáu Quý sử dụng trụ bêtông ly tâm mới. Sau nhiều năm thi công "chay", theo kinh nghiệm tích lũy, Sáu Quý mày mò học hỏi thêm. Sau này, kỹ thuật xây cầu cũng được cải tiến so với trước đây, 4 chân trụ cầu sử dụng hết 64 trụ bêtông (mỗi chân 16 trụ, dài 12m). --PageBreak--

Sáu Quý cho hay: "Sàn cầu Phú Vĩnh được lắp ghép bằng các tấm thép 6 li, phủ lên lớp nhựa đường để chống trượt, gỉ sét và bào mòn. Cách chống gỉ dầm cầu, khung lan can, trụ tháp... sơn chống sét rồi phủ lên lớp nhựa đường để chống thấm nước. Định kỳ 6 tháng, dùng nhớt cũ quét lên bề mặt, nhựa đường sẽ sống lại, cách bảo quản này ít tốn công mà lại rẻ tiền".

Theo Sáu Quý, nếu bảo quản đúng cách, cầu có tuổi thọ sử dụng 30 năm. Khi xây dựng cầu Thoại Hà 2 và Thoại Hà 3, Sáu Quý nghiên cứu cải tiến mới, tải chịu lực của sàn đạo bằng dầm dọc biên U300, vừa rẻ tiền nhưng tải trọng tăng được 2 tấn. Lan can cầu cũng được thiết kế vừa bền vừa mỹ thuật.

Khánh thành cầu treo Thoại Hà 2 do ông Sáu Quý xây dựng.

Ngay khi dự lễ khánh thành xong cầu Thoại Hà 2 và cầu Thoại Hà 3, Sáu Quý đón xe đò đi Bến Tre tham quan cầu Rạch Miễu, nghiên cứu mô hình tháp treo cáp chữ A này, chuẩn bị cho việc thi công cầu Phú Vĩnh.

Khi đóng các trụ bêtông xuống lòng sông, cắt bỏ phần ngọn 3m, đổ đà nước để liên kết hai chân trụ cầu lại. Từ đà nước, đổ hai chân trụ tháp chịu lực tải bằng bêtông cốt thép (cao 5,5m). Trên đầu trụ tháp, sử dụng 4 tấm thép loại 8 li ghép lại thành tháp mắc dây treo (cao 16m). Phần ngọn trụ bêtông cắt bỏ, dùng đóng cọc móng cầu nên tiết kiệm được 15 triệu đồng. Sáu Quý huy động tất thảy anh em công nhân mà Sáu Quý biết, làm việc liên tục, ăn nghỉ tại công trường hơn 45 ngày ròng rã, cây cầu Phú Vĩnh mới hoàn thành.

Ngày khánh thành cầu Phú Vĩnh, người dân hai huyện Thoại Sơn, Châu Phú đến xem vui như hội, đây cũng là lần đầu tiên, ở hai huyện nghèo Thoại Sơn và Châu Phú có được cây cầu to, dài, bề thế đến thế!

Hầu hết cầu treo Sáu Quý làm do nhân dân đóng góp kinh phí xây dựng, người dân phân công nhau liên hệ mua vật tư, giám sát thi công và nhân dân nghiệm thu một cách công khai.

Sáu Quý biết đồng tiền nào của người dân cũng là mồ hôi, nước mắt. Cây cầu của ông, mỗi tấc sắt, viên đá, nắm hồ vữa... tất cả là tiền của nhân dân đóng góp. Thế nên, ngoài việc nghiên cứu kỹ thuật làm cầu, Sáu Quý phải mày mò nghiên cứu thêm để hoàn thành cây cầu với chi phí rẻ nhất, tiết kiệm tiền cho người dân. Vì vậy, các công trình bạc tỉ như cầu Phú Vĩnh, Thoại Hà 2 và Thoại Hà 3, kinh phí xây dựng chỉ bằng 2/3 so với giá trị thiết kế ban đầu. 

Vào năm 2001, Quốc lộ 91 mở rộng, thấy ngành điện di dời bỏ các trụ điện bêtông cũ, Sáu Quý đến liên hệ với UBND huyện Châu Phú để xin những trụ điện bêtông cũ làm cầu nông thôn, dùng thay trụ gỗ. Sáu Quý bảo: "Trụ điện tuy cũ nhưng rất chắc chắn. 40 cây cầu treo xây dựng ở huyện Châu Phú, đa số sử dụng trụ điện cũ làm chân cầu, tiết kiệm được khoản tiền khá lớn".

Hơn 10 năm trước, Sáu Quý chỉ xây cầu treo từ thiện. Đội công nhân của anh cũng làm việc không ăn lương, khi nào rảnh việc nhà thì tham gia xây cầu. Vài năm gần đây, hợp đồng nhiều, công nhân của anh, phần lớn là những lão nông tri điền, suốt ngày theo công trình, không còn mấy thời gian để lo việc đồng áng, Sáu Quý mới bắt đầu nhận khoán thi công với giá rẻ để lấy tiền trả lương cho anh em công nhân có tiền nuôi vợ con.

Tùy kinh phí địa phương và hoàn cảnh đặc biệt của khu vực cần xây cầu mà Sáu Quý thu một khoản tiền công tương ứng với mức từ 10 đến 20%. Không ít cây cầu Sáu Quý làm, thấy người dân nơi đây nghèo quá, Sáu Quý quyết định xây giúp không lấy tiền công.

Đội quân thi công cầu của Sáu Quý đi đến đâu, không khí ở đấy thật náo nhiệt, rất đông người dân địa phương chung tay vào: người có tiền góp tiền mua vật tư, người góp gạo, góp thức ăn, người không có của thì góp công khuân vác! Sáu Quý đi đến đâu, là niềm vui lại ngập tràn...

Bà Võ Thị Mười, vợ của Sáu Quý, bộc bạch: "Nơi nào vận động tiền xây dựng cầu quá khó khăn thì ổng chỉ lấy tiền công đủ để trả lương cho công nhân và những chi phí cần thiết phải có. Ổng nói, coi như phần tiền công, tiền lời của gia đình mình đóng góp vô xây cầu, tạo phúc đức cho con cháu".

Sáu Quý và con trai bên một cây cầu do ông xây dựng.

Sáu Quý có 4 người con trai. Con lớn nhất là Phạm Hoài Ngọc, 25 tuổi, đã có vợ. Ngọc theo cha xây dựng cầu từ lúc còn nhỏ, nay đã là thợ lành nghề, có thể thay cha điều hành công việc xây cầu. Con trai kế là Phạm Thanh Ngà đang học đại học, chuyên ngành cầu đường, với mong ước nối nghiệp cha, xây dựng những cây cầu hiện đại, xóa cầu khỉ cho nông thôn vùng ĐBSCL.

Ngày 9/4, trao đổi với phóng viên Chuyên đề ANTG, ông Huỳnh Văn Tính, Chủ tịch xã Đào Hữu Cảnh cho biết: “Ông Sáu Quý đã góp phần rất lớn trong công tác xóa cầu khỉ, cầu tre. Riêng xã Đào Hữu Cảnh có đến hơn 10 cây cầu treo”.

Xây dựng cầu vượt sông đã là mơ ước từ nhiều năm của người dân ĐBSCL, từ đầu Long An, đến mũi Cà Mau, từ Đồng Tháp Mười đến Kiên Giang - Hà Tiên. Hiện nay, công cuộc xóa cầu khỉ không còn là kế hoạch riêng lẻ của từng địa phương ở Nam Bộ mà trở thành dự án của cả khu vực. Dự án xóa cầu khỉ được thực hiện song song với chương trình xóa đói giảm nghèo, có người ví "chiếc cầu là đầu con lộ", phải xóa cầu khỉ và xây dựng giao thông nông thôn thì mới đưa kinh tế khu vực ĐBSCL đi lên được.

Miền Tây, cần lắm những người như "vua cầu treo" Sáu Quý!

T.Yên - Cao Tâm
.
.