Đi tìm hậu duệ Tổng đốc Hoàng Diệu

15:05 04/07/2015
Năm 1880, Vua Tự Đức phong Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh, trấn nhậm thành Hà Nội. Ông vừa lo tổ chức bố phòng vừa lo an dân. Hai năm sau, Pháp tấn công thành Hà Nội. Thế giặc mạnh, không chống cự nổi, Hoàng Diệu đã tuẫn tiết nêu cao lòng trung nghĩa của mình.

Hơn 100 năm đã qua kể từ ngày cụ tuẫn tiết, chúng tôi đi tìm những hậu duệ của vị Tổng đốc trung nghĩa với mong muốn hiểu thêm phần nào khí phách và con người mà tên cụ đã đi vào lịch sử dân tộc.

BÀI I: MỘT ĐỜI TRUNG NGHĨA LẪY LỪNG

Qua nhiều lần tìm kiếm, dò hỏi, thật may mắn chúng tôi đã gặp được hậu duệ của Tổng đốc Hoàng Diệu. Ông là Hoàng Văn Hoa, cháu bốn đời của cụ Hoàng Diệu. Hiện ông sống tại quận 5, TP HCM.

Dáng người cao, thanh mảnh, ông Hoa gợi nhớ đến hình ảnh những nho sinh ngày xưa. Trong căn nhà nhỏ của gia đình ông ở khu chung cư trên đường Bạch Vân, có ban thờ của gia đình, trên cùng là di ảnh của cụ Hoàng Diệu. Nhìn bức ảnh chụp chân dung cụ Hoàng Diệu rồi nhìn sang ông Hoa, điều dễ nhận ra là ông thừa hưởng đôi mắt sáng tinh anh và chiếc mũi cao, dài của Tổng đốc.

Ông Hoa cho biết, ông là con út trong gia đình có 8 người con, chắt gọi cụ Hoàng Diệu bằng ông cố. Bố ông Hoa tên là Hoàng Văn Kiểm, cháu đích tôn của cụ Hoàng Diệu. Ông Kiểm là con cụ Hoàng Tuấn, con trưởng của Tổng đốc Hoàng Diệu.

Giai thoại về Tổng đốc Hoàng Diệu

Bằng chất giọng xứ Quảng có pha lẫn đôi chút, nhưng âm sắc vẫn còn, ông Hoàng Văn Hoa cho chúng tôi biết, hậu duệ của Hoàng Diệu hiện sống rải rác, chủ yếu ở Sài Gòn, Hà Nội, Quảng Nam và Đồng Nai.

Với vẻ mặt trầm tưởng, giọng nói đượm vẻ tự hào, ông Hoa kể về những giai thoại lý thú về ông cố của  mình:

Cụ cố Hoàng Diệu tên chữ là Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, người làng Xuân Đài, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - NV). Hoàng Diệu sinh ngày 10/2/1829, tức năm Kỷ Sửu trong một gia đình Nho học. Thân sinh là cụ Hoàng Văn Cầm (1799-1856), thường gọi là ông Hương Huệ, thân mẫu là cụ Phạm Thị Khuê (1803-1892). Hai ông bà tần tảo làm ruộng, nuôi tằm lo cho các con ăn học. Các anh em của Hoàng Diệu đều đỗ đạt trong các kỳ khoa cử đầu Tự Đức: 1 phó bảng, 3 cử nhân, 2 tú tài.

Năm 16 tuổi, Hoàng Diệu đã nổi tiếng văn tài. Năm 20 tuổi, trong một khoa thi ông đỗ cử nhân cùng với anh ruột là ông Hoàng Kim Giám. Bài vở hai ông hơi giống nhau, khiến viên chủ khảo nghi ngờ trình lên Vua Tự Đức. Vua Tự Đức hạ chiếu cho các quan giám khảo cho hai anh em ông Hoàng Diệu phúc hạch trong 3 ngày tại điện Cần Chánh. Sau khi xem quyển (bài thi), Vua Tự Đức đã khen rằng: "Văn hành công khí, quý đắc nhân tài, huynh đệ đồng khoa, thành vi mỹ sự". Nghĩa là: "Văn chương là việc chung, cốt để chọn chân tài; anh em đồng khoa thật là việc tốt".

Năm 25 tuổi, trong khoa thi Hội năm 1851, Hoàng Diệu đỗ Phó bảng, sau đó được bổ làm Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định) năm 1851… Trải qua nhiều lần thăng giáng, ông được bổ nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, như Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri Bộ Lại, kiêm Đô sát viện, Tổng đốc An Tĩnh (nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh - NV), Phó toàn quyền đại thần đàm phán với sứ thần Y Pha Nho (tức nước Tây Ban Nha bây giờ), Thượng thư Bộ Binh. Suốt đời làm quan, ông nổi tiếng là người thanh liêm thẳng thắn, hết lòng vì dân vì nước. Dân thời ấy thường truyền tụng rằng đời riêng ông hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền bạc.

Tổng đốc Hoàng Diệu.

Sống chết với thành Hà Nội

Sống thanh liêm, hết mình vì công việc, cuộc đời làm quan của Tổng đốc Hoàng Diệu rất được Vua Tự Đức và bạn đồng liêu nể phục.

Sau khi Đại úy quân đội Pháp Garnier cùng một phần toán binh sĩ chiếm thành Hà Nội trúng mưu Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm, rơi vào ổ phục kích và tử trận, liệu đường không giữ nổi những vùng đất Bắc đã chiếm đóng được, Pháp buộc phải ký  hòa ước trả lại thành Hà Nội và các tỉnh Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định cho triều đình Huế. Tuy nhiên, chúng vẫn giữ nguyên dã tâm tiến quân tái chiếm Hà Nội.

Được phong làm Tổng đốc Hà Ninh, vừa ra đến Hà Nội, Hoàng Diệu đã bắt tay ngay vào việc xây dựng, sửa chữa và củng cố thành lũy, huấn luyện binh sĩ sẵn sàng nghênh địch.

Nhận thấy lực lượng trấn thành binh mỏng, vũ khí thô sơ, Hoàng Diệu nhiều lần dâng sớ xin triều đình chi viện. Nhưng khi ấy, Pháp đã chiếm gọn Nam Bộ, triều đình ở Huế hoảng loạn, nội tình mâu thuẫn rối ren, phe chủ hòa lấn lướt phe chủ chiến. Bởi vậy, sớ dâng của Hoàng Diệu không được hồi âm.

Tình hình Bắc Kỳ căng thẳng, Vua Tự Đức trao cho Hoàng Diệu chức Tổng đốc Hà Ninh, trấn giữ thành Hà Nội. Đây là nhiệm vụ cấp bách, khó khăn và nguy hiểm. Vua Tự Đức giao phó cho Hoàng Diệu, vì cụ là một vị quan được đánh giá là thanh liêm, chính trực, hết lòng hết sức vì nước vì dân và từng lập được nhiều quân công, coi giữ vùng trọng yếu Hà Nội - Ninh Bình - Hà Nam. Với trọng trách trấn giữ Hà Ninh, ông ý thức được những khó khăn vô bờ bến. Hoàng Diệu đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng.

Năm 1882, thấy binh thuyền quân Pháp tự nhiên ra Bắc, ông lấy làm nghi ngờ lắm. Một mặt ông phái Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp, mặt khác ông lo chỉnh đốn lại thành trì và quân ngũ để đề phòng. Lấy cớ ta không tôn trọng Hiệp ước năm 1874 mà lại đi giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng Hà và cấm đạo, Thống đốc Hải quân Pháp, Đại tá Henri Rivière cho tàu chiến cùng 4.000 quân ra đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng Hà phía Đông nằm sát Hà Nội) và cho quân lính đi hoành hành phá rối và hăm dọa trên các đường phố.

Trước đó, Tổng đốc Hoàng Diệu đã dâng sớ lên Vua Tự Đức đề nghị việc phòng chống giặc. Theo ông, Hà Nội là yết hầu của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước ta. Nếu Hà Nội mất thì các tỉnh khác sẽ mất theo, nhưng Vua Tự Đức làm thinh. Khi Hà Nội bị uy hiếp, Hoàng Diệu xin triều đình Huế viện binh và ra lệnh giới nghiêm, thông báo các tỉnh đề phòng. Tuy nhiên, triều đình Huế đã không cấp viện binh.

Vua Tự Đức nghe lời phái chủ hòa ở triều đình ra lệnh triệt binh và mở cửa thành cho quân Pháp ra vào tự do. Vua Tự Đức cũng hạ chiếu quở trách ông đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Tuy vậy, Tổng đốc Hoàng Diệu vẫn quyết tâm sống chết với thành. Các quan xung quanh ông lúc bấy giờ có Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với thành.

Ông Hoàng Văn Hoa.

Rạng ngày 25/4/1882, tức ngày mồng 8-3 năm Nhâm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch viên đưa tối hậu thư vào thành cho Hoàng Diệu, buộc ông phải cho quân lính rời khỏi thành sau khi hạ hết khí giới và mở cửa thành, ông cùng các quan phải ra nộp mình cho hắn.

Trong thư có đoạn viết: "Ðúng 8 giờ sáng ngài phải thân hành đến dinh tôi hàng phục, có mặt đông đủ các quan Tuần phủ, Bố chánh, Án sát, Đề đốc, Chánh, Phó Lãnh binh. Nếu đúng 8 giờ, Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến Lãnh sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi, thì quân đội của tôi lập tức tấn công vào thành...".  Henri Rivière không chờ thư trả lời, cho tàu chiến bắn vào thành rồi cho quân tiến lên. Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu giết hàng trăm tên giặc.

Thình lình kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Đám cháy lan rộng, hàng ngũ chiến đấu hoang mang, quân giặc thừa cơ bắc thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào như nước chảy. Tình thế nguy nan, nhiều tướng sĩ dưới trướng ông bỏ trốn, hoặc đầu hàng. Chỉ có Thủy sư Đề đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ cửa thành phía nam, rồi tử trận. Hoàng Diệu vẫn không nao núng, tiếp tục chiến đấu. Sau một hồi chiến đấu nhưng vô vọng, quân ta dần tan rã.

Trước tình thế đó, Hoàng Diệu đi về dinh, nai nịt gọn gàng, mặc chiếc áo the thâm, tấm khăn nhiễu xanh chít lên đầu, và dải dây lưng nhiễu hồng thắt ra áo ngoài, tay cầm thanh kiếm tuốt trần, rồi lên mình voi xông pha trong mưa đạn tiến vào thành cung. Tại đây ông truyền lệnh: "Ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn chiến đấu nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại binh của Hoàng Kế Viêm chờ ngày báo phục". Khi mọi người giải tán, ông vào dinh viết bài di biểu tạ tội, rồi quay ra đi thẳng đến cửa Võ Miếu lật chiếc khăn đang bịt trên đầu treo mình lên cành cây trước Võ Miếu, tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ, tức ngày 25/4/1882, thọ 54 tuổi.

Ban thờ Tổng đốc Hoàng Diệu tại nhà ông Hoa.

Trước cái chết khí tiết của Hoàng Diệu, các tổng đốc sĩ phu, văn thân và nhân dân Bắc Hà và cả nước khâm phục và vô cùng thương tiếc. Tôn Thất Thuyết có đôi câu đối ca ngợi Tổng đốc Hoàng Diệu:

"Nhất cử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện

Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm".

Vua Tự Đức mặc dầu không ủng hộ tướng Hoàng Diệu trong việc chống đối với quân Pháp tại thành Hà Nội, vẫn hạ chiếu khen ông đã tận trung tử tiết, sai quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc táng. Sĩ phu Hà thành lập đền thờ cụ ở phố Văn Tân, sau thờ chung với cụ Nguyễn Tri Phương trong đền Trung Liệt trên gò Đống Đa với đôi câu đối:

"Thử thành quách, thử giang sơn

Bách chiến phong trần dư xích địa

Vi nhật tinh, vi hà nhạc

Thập niên tâm sự vọng thanh thiên".

Dịch:

"Kìa thành quách, kìa non sông

Trăm trận phong trần trơ đất đỏ

Là trời sao, là sông núi

Mười năm tâm sự thấu trời xanh".

Tuy nhiên, theo ông Hoa, từ xích địa trong câu đối trên mà dịch là đất đỏ là không đúng nghĩa, chưa thoát ý. "Đúng ra chữ xích địa phải dịch là "thước đất" thì mới chính xác và hay" - ông Hoa nói.

Ngày nay, tại Hà Nội, tên của Tổng đốc được đặt cho con đường rất đẹp chạy từ phía tây thành cổ, song song với phố Nguyễn Tri Phương. Nhiều thành phố của ta đều có tên đường và trường học mang tên Hoàng Diệu.

Sự tuẫn tiết của Tổng đốc Hoàng Diệu để lại tiếc thương cho nhân dân, nhưng những bài học, tấm gương trung nghĩa, oanh liệt, cuộc đời làm quan thanh liêm của ông còn mãi lưu truyền cho hậu thế. Trong dòng họ của ông, tấm gương của ông luôn được con cháu noi theo và để lại những câu chuyện thú vị.

(Còn tiếp)

Phạm Huy Văn