Chuyện cũ Hà Nội (tiếp theo)

Thứ Sáu, 08/10/2010, 16:35
Hồ Gươm đượm vẻ đẹp gọn xinh, không dáng dấp mênh mang như hồ Tây. Tưởng như một lúc nào đấy, đương giữa người người nô nức chen chân nơi đô hội, ở Hàng Giò, Hàng Khay ra, ở Hàng Đào, Hàng Trống dốc xuống, hốt nhiên gặp một ánh nước thoáng như cái chớp mắt của ai xanh biếc. Hồ Gươm đấy.

Cây bên Hồ Gươm

Nắng nghiêng bóng đưa những hàng dâu ngày xưa hắt vào chấm đến cầu Thê Húc, không phải một thời thơ khoa trương, mà tôi hiểu người xưa miêu tả cái khác thường của quần thể hồ Gươm, những nét riêng ấy chỉ dành cho khách biết yêu hồ. Có hôm trời quang, đứng bên tam quan đền Bà Triệu, trông lên phía tây trên làn sóng mái nhà nhấp nhô Hàng Gai, Cầu Gỗ, thấy in hình màu lam huyền của ngọn núi Ba Vì. Thế là người ven đường chẳng còn nhớ đương trong nơi phồn hoa, hay ở giữa cây và nước quanh mình mà với lên liền đến trời núi xa kia. Nhớ hồ Gươm, bao giờ tôi cũng trở lại tuổi thơ tò mò, ngây dại, say mê với những trò chơi đếm cây, đố lá, mỗi cây mỗi quả, xem các mùa đổi lá, mùa ra hoa không khi nào chán.

Làn cây ven hồ Gươm như làn mi, như ai dướn đôi mày. Không thể nghĩ cái đầm nước tuyệt vời ấy lại vắng làn mi những rèm cây.

Những hàng cây xung quanh hồ Gươm có một nền nếp riêng từ xa xưa. Thành phố Bắc Kinh xanh mướt cả dặm đường những hàng lệ liễu trập trùng mấy chục cây số ra các phía ngoại thành. Và những con đường trung tâm toàn những cây hòe cổ thụ. Cây cối hồ Gươm của Hà Nội thoạt nhìn không ra thể thức nào, nhưng để ý kỹ sẽ thấy được một lề lối không giống đâu của mỗi bóng cây bóng nước.

Có phải cây hồ Gươm đã được trồng lên từ trong những chuyện cổ tích. Ông lão nào như ông lão đeo ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ đằng cầu Đông đi xuống nghỉ chân bên hồ đặt một chiếc giành đất cây giống xuống đất. Có khi cây được trồng vào độ mưa phùn tơi đất, có khi hàng trăm năm nghìn năm mới lại gặp một ông lão. Mỗi cái cây bên nhau mà khác nhau đều mang chứng tích lịch sử và thời gian thế vậy.

Có một lúc thong thả bước, chợt ngẩng nhìn nhận ra những cây cổ thụ hôm nay trên bờ hồ Gươm đều đã chào đời từ thế kỷ trước, không biết chừng nào ông lão đeo ống tranh Giáng Kiều quảy giành cây giống đã đem từ cửa ô chợ Dừa, ô Yên Hoa vào. Phong tục nước ta, tuổi già có thói quen quý hóa thường trồng cây cho đời sau. Mỗi cây hồ Gươm đều được đưa đến từ các cổng đồng, cổng làng, bờ ao, mỗi cây đem về một hình ảnh mọi miền quê.

Cây hồ Gươm! Cây hồ Gươm! Trong đảo Ngọc giữa hồ, những cây đa, cây si, cây sanh, cây đề và những cây gạo mà ở đầu đình làng nào cũng sum suê. Thần cây đa, ma cây gạo. Cái gốc gạo hiền lành, xù xì như tảng đá vì những nhát dao tước vỏ cây từ thuở trong phố còn những cột đèn dầu thắp ở các ngã tư đường thập đạo, người ta lấy vỏ gạo về làm thuốc bóp chân sái, tay gãy - những bài thuốc ai cũng thuộc.

Những cây trong đường làng thành đại thụ cũng thấy ở đây. Những gốc lộc vừng vun lại thành một khóm mà nõn lộc vừng hái để kèm ăn gỏi cá mè, những cây sung cổ quái mỗi mùa xuân vẫn trổ lá, quả sung muối dưa, lá sung lót gói nem chạo trên Phùng nhắm với rượu gạo Mễ Trì của ba làng Mai.

Và những cây me, cây sấu vốn mọc trước ngõ, canh nấu quả me chua, nước rau muống luộc giầm sấu, sấu non đem làm chắm trẻ con nào cũng mê.

Cả những cây thường chỉ thấy trong cánh đồng trũng cũng la liệt ven hồ. Ở những đồng sâu, đồng xa, buổi trưa ngày mùa không kịp về làng, người cày đánh trâu vác bừa, quảy mạ lên nghỉ trưa tránh nắng bên những mái cầu mái quán dưới bóng cây chôi, cây nhội, sum suê xanh già như những chiếc quạt thóc dựng đứng.

Ô hay, bất chợt vào mùa thu, hoa vông - đỏ như hoa vông, đông như miếng tiết, chỉ đến mùa hoa vông đỏ khé một góc hồ  mới nhớ ra, chứ hàng ngày qua dưới gốc vông, không ai để ý tới loại cây cọc rào quen mắt ấy.

Và cả những cây rừng, những cây rừng cũng tới đây, rừng Mai Châu, rừng đảo Cát Bà, ông tiên nào đã quảy về đây những cây kim giao - mà tiếng đồn ngày xưa vua chúa dùng bữa chỉ cần đũa gỗ quý bảo mạng này, bởi thức ăn nhiễm độc thì cái đũa xám đen lại.

Đừng lẫn cây mõ láng giềng với khóm cổ thụ lộc vừng. Cây mõ chỉ ở rừng thẳm thế mà cũng thấy đứng dậy. Quả mõ to bằng quả bưởi, vô vi như quả cây sổ ven suối bọn trẻ con chỉ nhặt để vừa đá bóng vừa chơi ném nhau.

Hai tiếng hồ liễu xưa nay gắn bó với hồ Gươm, hồ Gươm hồ liễu. Nhưng đừng ai tưởng lúc sầm uất nhất quanh hồ Gươm chỉ toàn lối đi liễu rủ. Xưa rày chưa bao giờ có quang cảnh ấy. Lệ liễu hồ Gươm không yêu kiều vì dặm liễu, dặm dài. Mà liễu hồ Gươm chỉ lác đác. Những cây liễu đứng một mình buông tóc trong gió in bóng hồ điểm trang bức tranh hồ cuối thu phẳng lặng, có hoa lộc vừng đỏ hây rơi từng cánh xuống mặt nước.

Ở bên gốc đa chỗ đầu Tràng Thi trông sang xưa kia đã xanh um, rậm rạp những bụi mây, bụi song. Giữa thành phố mà hóa như đất trung du bán sơn địa, người ta nhớ đôi quanh gánh dưới mái tranh và những sợi dây mây phơi váy áo chăng qua mặt sân lát gạch Bát Tràng. Bây giờ vẫn còn một bụi mây quý lắm.

Nhưng tôi nhớ nhất và cho đến tận lúc này vẫn không hiểu sao bên hồ Gươm ngày trước lại có một cây ô môi, giữa mùa hạ hoa nở như hoa đào. Cây ô môi chỉ nhiều ở miền Nam. Chẳng lẽ đã có một lão trượng vác ống tranh cô tiên Giáng Kiều từ Gò Công, Hà Tiên đem ra một cành ô môi chiết trồng xuống ven hồ chỗ đất chỗ nước lịch sử này? Sao  lại không thể thế, khi hồ Gươm hôm nay đương đơm xôi lên những chùm bằng lăng hoa tím rừng miền Đông Nam Bộ, những lão ông đeo tranh Giáng Kiều hay những bộ đội Cụ Hồ trong cuộc chiến tranh vừa qua, những con người không bao giờ chết đã đem những giống cây khắp quê hương về trồng ven hồ Gươm.

Cuối thế kỷ trước, khi người Pháp vừa chiếm Hà Nội, các công sở mới mọc lên bên kia, ngày ngày công chức ở bên Hàng Gai đi làm việc, thuyền tam bản từ đầu Hàng Trống qua Tháp Rùa sang bên này rồi sau người ta mới đắp ra con đường vòng hồ chém ngang trước cửa đền Bà Kiệu.

Lịch sử đau thương quãng ấy  đã sang trang rồi, nhưng còn dấu tích trớ trêu trong cây bên đường. Âëy là cái tam quan đền Bà Kiệu đứng chơ vơ ở bờ đường bên này mà đền thì ở bên kia, ấy là những cây gỗ tếch cao lớn chỉ mọc ở rừng Thượng Lào, và những cây phượng vĩ quê ở Tân - ghinê ngoài đại dương...

Cây quanh hồ Gươm tụ hội các thứ cây của làng nước - và của thời thế.--PageBreak--

Chợ, kẻ chợ

Bộ mặt đời sống xã hội của một vùng là cái Chợ. Chữ "kẻ" là một từ cổ, chỉ một vùng. Lại cũng chỉ một nơi đô hội, như Kẻ Chợ cũng là Thăng Long, Hà Nội. Một vùng như Kẻ Sở (thôn Quán La), Kẻ Nành (xã Ninh Hiệp), Kẻ Bưởi (vùng Bưởi, Kẻ Cáo (các làng ở Xuân Tảo). Tên gọi Hà Nội là sau này, còn những tên Thăng Long, Đông Quan, Đống Đa thay đổi mỗi thời kỳ, nhưng lúc nào đất này dân gian, phố phường vẫn gọi là Kẻ Chợ.

Ở Kẻ Chợ, không kể những chợ còn tên trong bản đồ và chỉ thấy trong thơ phú như chợ Cầu Đông, chợ Võng Ta hãy đếm thì thấy những chợ búa, những cái chợ ở Kẻ Chợ ngày càng nhiều. Một lẽ giản dị, có người thì có chợ. Ở đấy, người ta tìm kiếm, đổi chác, mua bán cái ăn, cái dùng cho đời sống. Cái chợ thật quý, khi vùng ấy chợ búa đã vừa phải. Quý thế nên khi có một chợ mới người ta không dùng chữ hoa mỹ như khai trương, khánh thành mà gọi thân thương là ngày mở chợ, cưới chợ.

Khi chợ Cầu Đông, chợ Gạo không còn, vùng phố cổ băm sáu phố phường, có chợ Đồng Xuân. Cầu chợ xây cốt thép, mái bằng thật cao lợp tôn. Hà Nội có 3 chợ chính: chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam, chợ Hôm. Chợ có cầu có quán, nhà thầu vé chợ, phu quét chợ, phu gánh nước rửa chợ, chợ hợp giờ giấc sớm tối. Khai trương một cái chợ thật đông vui. Ngày đầu mở chợ có cúng lễ, chèo hát, người chơi chợ, xem chợ nô nức như hội. Cưới chợ thật linh đình. Các cụ già quanh hồ Tây còn kể cho con cháu nghe mãi về những trò vui trong ngày cưới chợ Bưởi.

Chợ Hàng Da, chợ Đuổi so tuổi thì chỉ mới như các "chợ xanh" bây giờ, chợ họp đứng họp ngồi trong lều cọc tre lợp vỉ buồm trên bãi trống. Gọi là chợ Đuổi, không phải chợ bị đuổi như có bài báo cắt nghĩa mà chợ chính họp cả ngày đến chiều. Người kéo chuông, đánh trống báo tan chợ - chợ Đồng Xuân là 5 giờ chiều. Phu quét, phun nước, rửa chợ rồi khóa cổng chợ.

Chợ Hôm - chữ chợ Hôm, chợ mai đã ra chợ chiều, chợ sớm rồi. Vì phải đến quá trưa, người đánh giậm, kéo vó, đơm đó các ao đầm ở Đuôi Cá mới kịp đem cá cua, tôm tép, ốc ếch vào chợ Hôm. Mặc dù chợ chiều đông hơn buổi sáng, nhưng cũng chập tối thì đuổi chợ. Hàng quán, gồng gánh rau cỏ, cá mú, mắm muối chợ Hôm dọn ra bán nốt ở bãi cỏ gần Vân Hồ, chỗ làng Thể Giao. Chợ Đuổi tiện cho người về muộn lo bữa chiều. Gần chợ Hôm mới có chợ Đuổi, phố xá nơi ấy còn hoang vắng khác trên chợ Hàng Da và Cửa Nam giữa phố, hiếm đất trống.

Ba đầu ô có ba chợ to: chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Dừa. Những cái chợ nửa tỉnh nửa quê này còn là chợ đổi vai, rau đậu đem bán đêm và sáng sớm. Người mua buôn rồi gánh, rồi thồ vào các chợ trong, như các chợ đổi vai ở Cầu Giấy, ở Nhật Tân và Bắc Qua bây giờ.

Còn những chợ có phiên, có hạn nhưng chỉ là chợ hè phố, như phiên chợ tơ ngày 1 và ngày 6 trong tháng ở phố Hàng Đào. Các làng canh cửi trong Hà Đông ra bán the lụa và mua tơ ở các nhà buôn phố Hàng Đào, Hàng Gai. Chợ Hoa phố sông Tô Lịch (Hàng Lược) các làng Quảng Bá, Nhật Tân vào bán cành đào, chậu hoa cúc chỉ có chợ trong phiên áp tết.

Chợ Đồng Xuân năm 1974.

Có những chợ thấp thoáng ra đời rồi lại mất ngay do biến thiên của đời sống và lịch sử thành phố. Đầu năm 1946, khi Pháp chiếm Hà Nội, thành phố còn thưa thớt người, có một cái chợ nơi mua bán thức ăn rau cỏ ở ngay phố Tràng Tiền, Hàng Khay bên hồ Gươm. Cũng như đầu năm 1954, Pháp rút khỏi Hà Nội, người di cư vào Nam nhiều, cũng tự nhiên thành cái "chợ giời" bên hồ Thiền Quang, người đem ra đấy bán tống bán tháo đủ thứ - sau này chợ Giời cố định gọi là chợ Hòa Bình mới dọn cả xuống gần chùa Vua.

Thành phố càng đông người thì chợ mọc càng nhanh, có lều quán, cầu chợ hẳn hơi. Chợ Gia Ngư liền chợ Hàng Bè, lòng đường thành chợ. Chợ 19-12 còn gọi là chợ Âm Phủ. Thành tên ấy do sự tích 1947, Pháp chiếm lại Hà Nội, rác rưởi và những xác người chết đường, không phân biệt là bộ đội, là dân thường được đem về chôn vào hẻm này, rồi đắp lên một gò cỏ dại, ở giữa xây một cái lư hương bằng xi măng.

Có người nhầm là mộ "chiến sĩ vô danh" của Pháp dựng. Quãng năm 1959, thành phố đã chuyển những hài cốt ở đấy ra nghĩa trang Văn Điển để mở chợ 19-12, kỷ niệm ngày 19/12/1946 Hà Nội nổ súng đánh Pháp, cũng là ngày toàn quốc kháng chiến. Chợ Châu Long cũng ra đời trong thời kỳ Pháp chiếm lại Hà Nội. Trước kia đấy là bãi cỏ trước cửa chùa Châu Long. Không phải có chùa Châu Long, phố Châu Long (trước phố này là Ăng toan Bon nê) thì tất nhiên có chợ Châu Long cổ như Giáo sư Trần có lần bảo thế.

Bên đường vào Hà Đông, có chợ Ngã Tư Sở. Rồi ở Cầu Mới, thêm chợ Xanh. Thành tên chợ Xanh không phải vì mặt tường các cửa mậu dịch ở đây quét vôi màu xanh, mà tên chợ xanh còn chỉ chung các nơi bán rau đậu của cái chợ cóc nay chỗ này mai chỗ khác, nếu bị dồn đuổi. Nhưng chợ xanh đầu đường vẫn tồn tại và lúc nào cũng hớt hải. Bởi vào trong chợ phải tần phiền khóa xe, gửi xe, đằng này người vớ vội bó rau, bánh đậu chỉ dừng lại là mua được, mà người bán hàng cũng đạp xe thồ rong ruổi, tiện cả đôi bên.

Cho đến tháng 12/1995, ở nội thành Hà Nội có 135 cái chợ quy mô, chợ mới sau cùng là chợ Long Biên - không kể chợ xanh, chợ cóc, chợ chớp nhoáng bất chợt đầu hôm sớm mai. Mới có siêu thị ở gác chợ Hôm mua hàng tự chọn, không phải người đứng bán. Nghe nói có siêu thị đã đóng cửa vì vắng khách. Cái chợ cũng như cửa hàng bán thức ăn sống, vài hôm hàng ế thì phải dẹp tiệm, không thể thử thách lâu được. Rồi ra còn mới mẻ ra sao nữa chưa biết.

Cũng là cái chợ, nhưng ở đất Kẻ Chợ xưa nay mỗi thời cũng có những nét khác nhau. Có điều mỗi ngày thành phố càng đông thì một nhiều chợ hơn

T.H.
.
.