Jim Thompson - Điệp viên CIA nổi loạn
Tồn tại trên cõi đời chỉ 61 năm, Jim Thompson - cựu điệp viên OSS-CIA hoạt động tại Đông Dương - nổi tiếng vì 3 điều: thứ nhất, dám chống lại cuộc chiến bí mật của CIA tại Lào; thứ hai, người có công khôi phục sản phẩm tơ lụa dệt bằng tay ở Thái Lan; và thứ ba, vụ mất tích đột ngột của ông năm 1967 đến nay vẫn còn là bí ẩn.
Jim là tên gọi thân mật của James H.W. Thompson, thường gọi là Jason, sinh năm 1906 tại Greenville, bang Delaware, Mỹ. Sau khi tốt nghiệp đại học, Jim theo học tiếp tục Đại học Princeton, theo học cao học tại Khoa Kiến trúc Đại học Pennsylvania nhưng không có học vị. Ra trường, Thompson làm việc ở New York cho đến năm 1941, khi đó ông 35 tuổi, ghi danh vào Vệ binh Quốc gia sau sự kiện Trân Châu Cảng trong Thế chiến II. Ngay sau đó, Mỹ tham chiến. Trước khi đến Đông Dương, Thompson được biệt phái đến vài nơi, như chống quân Pháp tại mặt trận Bắc Phi, châu Âu và đảo Ceylon (Sri Lanka ngày nay).
Tháng 8/1945, Thompson được biệt phái đến Thái Lan tiếp quản Văn phòng của OSS, không lâu sau ngày Nhật đầu hàng quân Đồng minh. Trước đó, Thompson đã gia nhập Văn phòng phục vụ chiến lược (OSS), tổ chức tiền thân của CIA, vào năm 1942. Đầu năm 1946, Thompson trở thành Tùy viên quân sự trong Tòa Công sứ Mỹ tại Bangkok, được giao phụ trách công tác hỗ trợ phong trào người Thái Tự do (Free Thai), và sau nữa phụ trách luôn các nhóm Lào Tự do (Free Lao), Campuchia Tự do (Free Cambodian). Năm 1947, OSS giải thể để thành lập Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Thompson tiếp tục làm việc tại Văn phòng Thái Lan cho CIA.
Là một người hoạt bát, lý tưởng và hơi có tính lãng mạn, Thompson dễ dàng tiếp xúc và xây dựng được nhiều mối quan hệ thân thiết với các nhóm du kích tự do kể trên. Không có gì ngạc nhiên trong chuyện Thompson đã quen biết với rất nhiều người địa phương ở Thái Lan, Lào, Campuchia và cả Việt Nam. Thompson đã tạo điều kiện để các lãnh đạo du kích Lào Tự do và Campuchia Tự do tiếp xúc với các quan chức Mỹ nhằm tạo dựng mối quan hệ giữa người Mỹ với các nhóm du kích kháng Pháp. Thompson đã không hề giấu giếm việc mình có thiện cảm với các nhóm du kích người Lào, và điều này khiến cho du kích Lào Tự do rất quý mến và tin tưởng ông.
Có thể nói, Thompson là mẫu điệp viên lý tưởng ít ỏi còn sót lại trong tổ chức CIA thời bấy giờ. Ông quan niệm một cơ quan tình báo như CIA thì không thể tự biến mình thành một tổ chức bán quân sự, càng không thể tự mình thực hiện một cuộc chiến nhất định. Tuy nhiên, Thompson dường như đã không quan tâm đến những gì đang diễn ra sâu bên trong CIA, nên Jim không nhận ra rằng, giới chức Mỹ lúc này không quan tâm lắm đến những "người bạn Lào" của Thompson. Trong quyết định tự đặt ra một sứ mệnh hỗ trợ người Lào và tự mình thực hiện sứ mệnh này, Thompson còn ngây thơ tin tưởng rằng, Mỹ sẽ giúp giải phóng những thuộc địa cũ khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, như Tổng thống Franklin D. Rooservelt đã hứa trong Thế chiến II. Thompson tin rằng, lập trường chống thực dân cũ, giải phóng thuộc địa sẽ được tiếp tục sau khi chiến tranh kết thúc. Thế nhưng, Thompson đã không bắt kịp những diễn biến âm thầm của thời cuộc.
Vào những thập niên 50 và 60 thế kỷ XX, CIA bắt đầu nuôi tham vọng trở thành một cơ quan có nhiều quyền lực, muốn đóng vai trò lớn hơn trong guồng máy an ninh của nước Mỹ. Chiến tranh lạnh đang lên cao trào, và Mỹ muốn hỗ trợ Pháp, kể cả các cường hào địa phương để tạo thành một lực lượng nhằm "ngăn chặn Cộng sản". Từ khi thoát thai từ OSS, CIA từng thực hiện một số vụ chính biến tại Iran (năm 1953) và Guatemala (năm 1954). Ở Lào, CIA đã nhìn thấy một cơ hội để vươn lên "bằng vai phải lứa" với những "ông lớn" trong bộ máy hoạch định chính sách của Mỹ lúc đó là Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc. Và cơ quan này quyết định tung ra một canh bạc lớn nhất trong lịch sử: triển khai một chiến dịch bí mật tại Lào nhằm phát triển hình ảnh và thế lực cạnh tranh với 2 cơ quan kia.
Cuộc chiến bí mật của CIA tại Lào đã ra đời như thế. Nó không những đã làm thay đổi châu Á mãi mãi, làm biến đổi cuộc sống của các điệp viên CIA và làm thay đổi cả CIA. Qua triển khai cuộc chiến, CIA không chỉ khẳng định sức mạnh và tầm quan trọng của mình trong bộ máy hoạch định chính sách, mà đi xa hơn còn nuôi tham vọng mở rộng quyền hạn và sức mạnh, biến thành một tổ chức bán quân sự, tập trung mạnh vào các hoạt động quân sự bí mật. Ngày nay, những gì CIA đã làm ở Iraq và Afghanistan hoàn toàn đúng như những gì họ đã làm trong cuộc chiến ở Lào năm xưa. Trong cuộc chiến bí mật của CIA tại Lào, cộng đồng người Mông ở vùng Bắc và Tây Bắc Lào được xem là lực lượng đối tác quan trọng nhất. Họ được xem là những chiến binh rất thiện chiến lúc bấy giờ.
Kể cũng thật lạ, vương quốc bình yên với bốn bề núi non trùng điệp ấy lại là nơi mà Washington chọn làm bàn đạp xây dựng định hướng tương lai chính sách đối ngoại. Trước thắng lợi như vũ bão của cách mạng Việt Nam, chính quyền của Tổng thống Dwight D. Eisenhower muốn lợi dụng đất Lào cho mục đích chống Cộng. Eisenhower từng khẳng định tầm quan trọng của Lào trong một cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia: "Nếu để mất Lào, phần còn lại của Đông Nam Á cũng mất theo”. Vì vậy, Eisenhower, và cả người kế nhiệm John Kennedy, đều quyết tâm theo đuổi cuộc chiến bí mật tại Lào.
Để triển khai cuộc chiến tại Lào, CIA đã cho xây dựng nhiều đường băng sân bay dã chiến và thuê hẳn một hãng hàng không, Air America, để thực hiện các chuyến không vận bí mật trên đất Lào nhằm vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm cung cấp cho các chiến binh người Mông. Để phục vụ cho cuộc chiến bí mật của CIA, các căn cứ không quân ở Thái Lan cũng được trưng dụng, với hàng chục ngàn người làm việc thường xuyên. Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Alexis Johnson (năm 1971) từng khẳng định rằng, việc CIA sử dụng người Mông trong cuộc chiến bí mật ở Lào rất "tiết kiệm chi phí". Về tiền bạc, chi phí cho mỗi chiến binh khi đó chỉ khoảng 3 USD/tháng, trong khi mỗi binh sĩ Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam phải chi đến 339 USD/tháng. Hơn nữa, tổn thất nhân mạng cũng hoàn toàn có lợi cho Mỹ: chỉ có người Mông ra chiến trường để chết thay cho người Mỹ. Đến khi kết thúc cuộc chiến bí mật của CIA, hơn 300.000 người Mông đã chết.
![]() |
| Những chuyến không vận bằng máy bay của hãng Air America của CIA ở miền Bắc Lào, thập niên 60 thế kỷ XX. |
Chứng kiến việc OSS (về sau là CIA) đã không còn theo đuổi chính sách hỗ trợ người bản địa Lào và Thái Lan như thời Thế chiến II nữa, Thompson bất mãn và xin rời khỏi quân ngũ, không lâu sau khi nhận nhiệm vụ. Tùy viên quân sự trong Tòa Công sứ Mỹ tại Bangkok. Ông chuyển sang hoạt động kinh doanh hàng hóa. Vốn là người thích tìm tòi, sưu tầm cổ vật và nhất là những sản phẩm đặc thù của địa phương, Thompson đã phát hiện ở Thái Lan có một loại sản phẩm thủ công rất độc đáo: lụa dệt bằng tay. Vậy là Thompson bắt tay vào sản xuất sản phẩm độc đáo này để phục vụ nhu cầu của khách du lịch.
Năm 1948, Thompson cùng với một người bạn là George Barrie hùn vốn lập ra Công ty Thai Silk. Đó là một trong những công ty kinh doanh tơ lụa đầu tiên ở Thái Lan và sau này đã trở thành thương hiệu tơ lụa nổi tiếng khắp thế giới của Thái Lan. Cũng chính Công ty Thai Silk của Thompson là nơi đã giúp phục hồi một nghề truyền thống của người Thái vùng Đông Bắc: lụa dệt bằng tay. Thompson quả có tình cảm rất sâu đậm với người dân bản xứ Thái Lan và Lào. Để thực hiện các công đoạn gia công sản phẩm, ông đã đặt hàng cho người dân bản xứ sẵn có tay nghề dệt lụa thực hiện thao tác dệt bằng tay. Bằng cách này, Thompson trả công sòng phẳng cho họ.
Để thuận tiện cho việc sản xuất ấy, Thompson đã chuyển cơ sở sản xuất, kinh doanh tơ lụa của Công ty Thai Silk lên tỉnh miền núi Khorat. Chính lối suy nghĩ quá "ngây thơ" về một nước Mỹ sẽ “thúc đẩy dân chủ” cho xã hội của người bản địa đã vô tình làm hại chính Thompson. Trong một lá thư gửi người chị ruột, Thompson đã thổ lộ mình cảm thấy "nôn mửa" vì cuộc chiến của CIA tại Lào. Và ông đã triển khai một chiến dịch của riêng mình, nhưng nó đi ngược lại xu hướng hiếu chiến của CIA lúc bấy giờ. Mọi hoạt động của Thompson chỉ càng khiến cho ông trở thành một "phần tử bất hảo" trong mắt CIA. Và chính vì những hành động đó, CIA đã tung ra "thông báo khẩn" về Thompson gửi cho tất cả nhân viên, điệp viên ngầm hoạt động tại Đông Dương lúc bấy giờ là "hãy tránh xa thằng cha Thompson ấy ra". Thế nhưng Thompson vẫn chưa thôi. Ông tiếp tục những hoạt động đả phá chiến dịch của CIA tại Lào. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn truyền hình vào đầu năm 1967, Thompson đã công kích gay gắt chính sách của Mỹ ở Đông Dương.
Chủ nhật 26/3/1967, trong lúc đi nghỉ mát tại một khu nghỉ dưỡng ở trên cao nguyên miền Trung Malaysia, Thompson đã đột ngột mất tích không để lại dấu vết gì. Một cuộc tìm kiếm quy mô lớn chưa từng có đã diễn ra suốt nhiều ngày, nhiều tháng nhưng vẫn không tìm thấy tăm hơi nào của Thompson. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra. Có người cho rằng ông bị người thổ dân bản xứ bắt cóc. Một số người đã nhìn thấy Thompson đi dạo trước khi biến mất một cách bí ẩn. Có người còn nhìn thấy 2 người đàn ông đến tiếp xúc và nói chuyện với ông trước khi ông biến mất. Đến cuối năm 2010, cuộc tìm kiếm hài cốt Thompson vẫn còn tiếp diễn, nhưng kết quả vẫn là con số không

