Những nhà báo nước ngoài trên chiến trường Việt Nam

09:15 27/11/2008
Họ là những nhà báo của các hãng thông tấn nước ngoài có trụ sở đặt tại miền Nam Việt Nam. Tác nghiệp trong không khí đậm mùi thuốc súng hàng ngày, những bài báo, đoạn phim của họ đã góp phần dấy lên phong trào phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam tại Mỹ và trên toàn thế giới. Họ đã góp phần không nhỏ làm cho dư luận thế giới hiểu thêm thực trạng miền Nam Việt Nam từ khi quân đội Mỹ can thiệp vào nơi này – đó là sự phẫn nộ về tội ác chứ không hề có sự hàm ơn.

Thắng lợi ở trận Ấp Bắc vào ngày 2/1/1963, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho phong trào chiến tranh du kích của Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam. Sau thất bại đầu tiên này, phía Mỹ cố gắng biện minh rằng, quân đội Mỹ kết hợp với đội quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã đánh bật lực lượng du kích ra khỏi khu vực phía bắc bằng máy bay trực thăng.  Người đưa ra biện minh ấy chính là Đô đốc Harry Felt, Tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương. Khi mà dư luận chưa hiểu thực hư vụ việc, thì chỉ 2 ngày sau, nhà báo Peter Arnett - phóng viên của Hãng tin AP (Associated Press) đã chỉ thẳng ra thất bại của Mỹ lẫn quân đội VNCH trong trận đánh này.

Peter Arnett nói rõ, sau chiến thắng đầu tiên này, lực lượng du kích ở miền Nam đã đạt một tầm vóc phát triển mới. Theo Peter Arnett, chiến thắng phải dựa trên mục tiêu chiến lược, chứ không thể nào lấy đất đai để so sánh. Rõ ràng, trận Ấp Bắc hoàn toàn khác với cuộc chiếm cứ đất đai trong Chiến tranh thế giới thứ hai và trong cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên. Chính vì nhận định này của Peter Arnett mà Đô đốc Harry Felt phát cáu, ngay lập tức ông ta hét thẳng vào mặt Peter Arnett: “Anh hãy trở lại hàng ngũ”, ý ông ta ám chỉ Peter Arnett đừng quên mình là người Mỹ.

Theo đánh giá của các đồng nghiệp cùng thời thì nội dung các bài viết  trong chiến tranh Việt Nam, Peter Arnett luôn cố gắng tìm một sự thật khác hơn sự thật mà chính quyền Sài Gòn lẫn Washington đưa ra. Sau khi kết thúc quá trình làm việc tại Việt Nam, Peter Arnett rất nổi tiếng trong cuộc chiến Vùng Vịnh 1991, lúc này ông làm việc cho Hãng NBC (Mỹ). Hoạt động trên chiến trường Iraq, ông liên tục có bài viết đưa ra nhận định và hình ảnh cho thấy bom đạn của Mỹ chỉ sát hại người dân vô tội cùng trẻ em tại đất nước này.

Không chịu được sức ép từ nhiều phía, NBC cuối cùng đã phải sa thải Peter Arnett, nhưng liền sau đó, một tờ báo Anh lại thuê ông tiếp tục làm đặc phái viên tại Vùng vịnh. Năm 1996, Peter Arnett có trở lại thăm Việt Nam, và ông rất đỗi ngạc nhiên trước những đổi thay nhanh chóng theo chiều hướng tích cực của một đất nước vừa trải qua cuộc chiến tàn khốc.

Nếu như Peter Arnett là nhà báo Mỹ đầu tiên nhìn thấy bước ngoặt của chiến tranh du kích tại miền Nam Việt Nam sau chiến thắng Ấp Bắc thì Henry Kamn, phóng viên của tờ New York Times là người khiến cả thế giới bàng hoàng với việc đưa tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (vào lúc đó, báo chí và dư luận quốc tế gọi là thảm sát Mỹ Lai). Một buổi trưa tại văn phòng báo New York Times ở Sài Gòn, nhận điện thoại từ một đại úy phi công Mỹ tố giác vụ thảm sát dã man đối với thường dân ở một làng thuộc tỉnh Quảng Ngãi do quân đội Mỹ gây ra. Viên đại úy phi công cho biết, chính anh đã chứng kiến tận mắt vụ thảm sát này, và anh đã dùng trực thăng của mình để cứu những người sống sót. Sau một thời gian im lặng, do lương tâm cắn rứt, viên đại úy phi công này đã quyết định lên tiếng tố giác.

Nhận được nguồn tin quan trọng này, Henry Kamn lập tức yêu cầu thư ký đặt vé máy bay cho mình đi Đà Nẵng ngay đầu giờ chiều hôm đó. Đến Đà Nẵng, Kamn không có phương tiện nào để đi Quảng Ngãi mà trời lại bắt đầu tối dần. Cuối cùng, Kamn chọn giải pháp xin “đi ké” trên một máy bay quân sự Mỹ, đang đưa quân đến khu vực Quảng Ngãi.

Ngay trên máy bay, khi biết Kamn là nhà báo, một người Mỹ đã nói rằng: “Tôi biết ông tìm gì ở Quảng Ngãi. Vụ thảm sát Mỹ Lai, đúng không?”. Khi Kamn thừa nhận, người Mỹ kia mới nói ông ta là cố vấn của tỉnh trưởng Quảng Ngãi và ngỏ ý mời Kamn khi đến Quảng Ngãi, hãy lưu trú tại nhà ông để được an toàn.

Sáng hôm sau, Kamn có mặt ở làng Mỹ Lai. Một ngôi làng hoàn toàn im ắng, không có bóng người. Một số ít những người sống sót trong trận thảm sát của lính Mỹ đã di tản sang làng kế bên để lánh nạn. Kamn bắt đầu thiết lập nguồn thông tin với những người sống sót này để đi tìm sự thật của vụ thảm sát.

Không quá khó khăn, Kamn đã dựng lại được đầy đủ những tội ác của lính Mỹ trong vụ thảm sát qua lời kể của các nhân chứng sống sót. Có thể nói, đây là một trong những tội ác tồi tệ nhất do quân đội Mỹ gây ra trong chiến tranh Việt Nam. Sau khi thu thập đủ tư liệu, trở lại nhà riêng của viên cố vấn Mỹ, ông đã mượn điện thoại gọi về văn phòng của New York Times tại Sài Gòn, rồi từ đây bài viết của Kamn được chuyển sang trụ sở chính tại Mỹ. Ngay sáng hôm sau, cả thế giới đã biết đến tội ác của quân đội Mỹ đối với thường dân tại Việt Nam. Với những tình cảm dành cho đất nước này, về sau, Kamn đã cưới một phụ nữ Việt Nam làm vợ.

Mặc dù vậy, bất chấp dư luận quốc tế, chỉ một năm sau quân đội Mỹ tiếp tục gây ra vụ thảm sát Kiến Hòa vào tháng 3/1969. Nhà báo Kevin Buckley, Trưởng văn phòng báo Newsweek tại Sài Gòn đã tố cáo vụ thảm sát này như sau: “...Theo một viên chức, có khoảng  5.000 dân thường bị hỏa lực của Mỹ giết chết trong cuộc bình định ở Kiến Hòa. Sự chết chóc ở đây khiến cho cuộc thảm sát ở Mỹ Lai không thể nào so sánh. Sư đoàn 9 (Ninth Division) huy động tất cả sức mạnh vào cuộc hành quân này. 8.000 lính bộ binh cày nát Kiến Hòa nhưng rất hiếm xảy ra đụng độ với địch (lực lượng Giải phóng – PV).

Cuộc hành quân được 50 khẩu đại bác, 50 trực thăng hỗ trợ. Máy bay đã thực hiện tất cả 3.381 lần tấn công ném bom trong cuộc hành quân này”... Thật khó giải thích về sự khác biệt khủng khiếp giữa gần 11.000 xác chết đếm được và số vũ khí thu được là 748. Chỉ có thể giải thích: đa số xác chết ấy là của người dân vô tội”. Bài viết đã khiến những ai còn nghi ngờ về vụ thảm sát Mỹ Lai do Kamn thực hiện thì nay đã phải suy nghĩ lại.

Cũng là phóng viên của Hãng thông tấn AP như nhà báo Peter Arnett, nhà báo ảnh Eddie Adams lại khiến thế giới bàng hoàng trước tấm ảnh Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia VNCH Nguyễn Ngọc Loan bắn thẳng vào đầu một tù binh đã bị trói chặt tay trên đường phố Sài Gòn vào ngày 1/2/1968. Một năm sau, Adams đã giành được giải Pulitzer cho ảnh sự kiện và giải thưởng Báo ảnh thế giới, một giải thưởng mà bất cứ nhà báo nào trên thế giới cũng ao ước có được. Tuy nhiên, tính chất khốc liệt của cuộc chiến được phản ánh trong bức ảnh còn quan trọng hơn cả giải thưởng cao quý mà Eddie Adams nhận được.

Có nguồn tin còn cho hay, một người Việt Nam đang làm việc cho một hãng truyền hình nước ngoài đã quay được thước phim cận cảnh về hành động man rợ của tướng Nguyễn Ngọc Loan, nhưng không hiểu sao sau đó những thước phim ấy đã không xuất hiện và được nhắc đến.

Adams bắt đầu sự nghiệp nhiếp ảnh khi còn là học sinh trung học ở Trường Kensington. Ông sau đó kiếm được việc làm ở nhật báo New Kensington Daily Dispatch, rồi năm 1962, ông gia nhập Hãng AP. Ngoài bức ảnh nổi tiếng trên, Adams đã chụp nhiều nhân vật nổi tiếng thế giới. Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh có nhiều ảnh đăng nhất ở Mỹ, ảnh của ông hiện diện trên các ấn phẩm nổi tiếng như Time, Vogue, Vanity Fair và Parade.

Bên cạnh giải Pulitzer năm 1969, Adams nhận được 500 giải thưởng khác bao gồm giải George Polkcho ảnh tin tức năm 1968, 1977 và 1978, và một số giải thưởng từ Ảnh báo thế giới, NPPA, Sigma Delta Chi, Overseas Press Club, cũng như của nhiều tổ chức khác. Sự nghiệp ảnh của Adams được lưu giữ thông qua Barnstorm: triển lãm của Eddie Adams, phòng ảnh được ông xây dựng từ năm 1988. Adams qua đời ở thành phố New York do biến chứng teo cơ dẫn đến xơ cứng, còn được biết đến với cái tên  - bệnh Lou Gehring.

Nhà báo Tiziano Terzani đang lấy tư liệu để thực hiện tác phẩm "Giai Phong".

Một trường hợp đặc biệt nữa, một người Mỹ đến Việt Nam trong vai trò khác nhưng sau đó lại trở thành phóng viên khi chứng kiến những nghịch lý tại miền Nam Việt Nam. Đó là Carl Robinson. Anh đến Việt Nam mang theo “tinh thần Kennedy”, một tinh thần cho phép người ta tự coi mình là sứ giả của thế giới văn minh, có sứ mạng giúp xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ và phồn vinh tại miền Nam Việt Nam. Thế nhưng, vừa đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, anh đã hiểu được cảm giác chiến tranh là như thế nào trong chiếc xe ca quân đội mà các cửa sổ đều được bảo vệ bằng một tấm lưới thép chống đạn.

Carl Robinson nhận nhiệm vụ ở Gò Công, một tỉnh lỵ thuộc miền Tây, với tư cách không liên quan gì đến báo chí là nhân viên USAID (Cơ quan Viện trợ Mỹ), Carl càng nhận rõ sai lầm lớn của mình khi thấy những người mà họ cho rằng họ có sứ mạng bảo vệ, giúp đỡ lại biểu hiện sự thù hằn rõ nét. Còn các tỉnh trưởng – thường là quân nhân – là những ông vua ở địa phương, một thứ hung thần khiến người dân sợ hãi. Carl quyết định từ nhiệm. Nhưng rồi, chính sự từ nhiệm này và việc quyết định lấy vợ Việt Nam khiến Carl Robinson bị CIA liệt vào “danh sách đen” (black list) những người Mỹ bị theo dõi tại Sài Gòn. Nhưng, cuối cùng Hãng tin AP vẫn quyết định nhận anh với vai trò vừa là phóng viên vừa là nhiếp ảnh gia. Về sau, Carl Robinson trở thành trưởng văn phòng của tờ tuần báo Mỹ Newsweek tại Sydney (Australia). Anh cùng vợ con định cư tại nơi này và mở quán ăn Việt Nam có tên là Sài Gòn.

Một nhà báo nữa mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhà báo người Italia Tiziano Terzani, đặc phái viên báo Der Spiegel tại Đông Nam Á, đến Sài Gòn vào năm 1971. Ông là một trong những nhà báo tích cực chống lại sự can thiệp của người Mỹ tại Việt Nam và công khai coi cuộc chiến đấu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và miền Bắc Việt Nam là cuộc chiến yêu nước của người Việt Nam cần được thế giới ủng hộ.

Giữa tháng 3/1975, nhà báo Tiziano Terzani được báo rằng một trong những bài báo của ông đã xúc phạm Tổng thống Thiệu và ông bị trục xuất khỏi miền Nam Việt Nam. Ngay lúc này, Terzani đã có cảm giác ngày tàn của chế độ VNCH đã đến, nên ông tìm mọi cách để ở lại miền Nam Việt Nam nhằm chứng kiến giây phút cuối cùng. Và cái giây phút Terzani mong chờ nhất cũng đã đến: ông được chứng kiến cảnh xe tăng của quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập – kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày 30/4/1975, Tiziano Terzani được phép ở lại Việt Nam thêm 3 tháng. Trong 3 tháng này, ông đã đi gần như xuyên suốt Việt Nam, gặp những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cuối năm 1975, ông cho ra đời tác phẩm “Giai Phong” (tạm hiểu là Giải Phóng – PV) – quyển sách kể lại 3 ngày giải phóng và 3 tháng Tiziano Terzani quan sát đất nước Việt Nam sau khi thống nhất và bước vào giai đoạn đầu của xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ngay tức khắc, cuốn sách được khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tại Italia, quê hương của Terzani, nhà xuất bản cho in một loại ấn bản đặc biệt (rút ngắn) dành phổ biến cho các trường học ở Italia.

Truyền thông khiến khoảng cách về địa lý gần như biến thành vô nghĩa, trước năm 1975, các nhà báo nước ngoài là một bộ phận gắn liền với cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Họ đã góp phần làm sáng tỏ nhiều góc khuất, thực trạng bị bóp méo trong chiến tranh. Nhiều nhà báo cũng đã bày tỏ công khai thái độ của mình như chống lại sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam, sự bạo ngược của chế độ Nguyễn Văn Thiệu... Và chính họ đã góp phần nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa vào việc thúc đẩy cho cuộc chiến tranh sớm kết thúc vào ngày 30/4/1975.

(Bài viết có tham khảo tư liệu từ “Hồi ký không tên” của cố nhà báo Chánh Trinh)

Kinh Hữu
.
.