Chùa Tiêu, dấu trầm mặc trên non thiêng Kinh Bắc

Thứ Bảy, 28/02/2026, 10:05

Vùng quê Kinh Bắc nơi có dòng sông Tương trong xanh, hiền hòa uốn lượn và núi Tiêu đã đi vào trầm tích bao đời, cùng với nhiều ngôi chùa nổi tiếng thì chùa Tiêu lại có một phong vị đặc biệt rất riêng.

Ngôi chùa cổ kính nằm trên núi Tiêu với lịch sử có một không hai, nơi được cho là Lý Công Uẩn (vị vua đầu triều nhà Lý được sinh ra và lớn lên tại đây và sư Vạn Hạnh nuôi dưỡng). Và là một trong ba ngôi chùa hiếm hoi của Việt Nam, (cùng với chùa Đậu, chùa Phật Tích), chùa đang lưu giữ nhục thân của thiền sư. Nhục thân Bồ tát Như Trí viên tịch năm Quý Mão 1723, trải qua hơn 300 năm đang an tọa trong ngôi nhà Tổ của chùa Tiêu.

tu-o--ng  thie^`n su- va-n ha-nh cao 5 me´t tre^n di-nh nu´i tie^u (chu`a tie^u).jpg -0
Tượng thiền sư vạn hạnh cao 5 mét trên đỉnh núi tiêu (Chùa tiêu)

Về với đất quan họ Bắc Ninh vào dịp đầu năm mới, khách du xuân không chỉ đến chùa Phật Tích để đắm chìm trong cái bảng lảng, sương khói mơ hồ, nơi có tượng Phật A Di Đà bằng đá cổ kính, một báu vật vô giá của Phật giáo Việt Nam. Khách hành hương không chỉ đến đền Đô, nơi thờ 8 vị vua thời Lý, dòng họ đã có cú xoay ngoạn mục khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua vào năm 1009, và đến mùa thu năm 1010, ông cho rời đô từ Hoa Lư ra đất kinh kỳ, lấy tên là Thăng Long. Theo dòng lịch sử hơn 1.000 năm để mở ra Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội với bề dày văn hiến. Và, khi tới đây rồi, bạn cũng không thể quên đến ngôi đền thiêng thờ Lý Thường Kiệt, viên tướng tài kiệt xuất, đã phù trợ đắc lực hai vua là Lý Thánh Tông, và Lý Nhân Tông trong công cuộc giữ nước. Năm 1077, khi Vua Lý Thánh Tông đã băng hà, Vua Lý Nhân Tông còn nhỏ tuổi, Thái úy Lý Thường Kiệt đã lập nên chiến công hiển hách khi đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt. Cũng thật thiếu sót, nếu như bạn không ghé thăm chùa Tiêu, ngôi chùa cách đền thờ Lý Thường Kiệt dăm ba cây số. Ngôi chùa cổ kính với bề dày văn hiến có từ thời Tiền Lê, trải qua bao nắng mưa, dông bão, sự trồi sụt của thời gian.

Giữa miền Kinh Bắc cổ kính, nơi những làn điệu quan họ với những liền anh, liền chị, với áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần lĩnh đen, rộn ràng, tha thiết, mời gọi, nơi đàn lợn âm dương sáng bừng trên giấy điệp của làng tranh Đông Hồ, ngôi chùa lặng lẽ tựa mình bên sườn núi Tiêu Sơn - chùa Tiêu. Không ồn ào, không phô trương, chùa Tiêu như một nốt trầm sâu trong bản nhạc văn hóa Bắc Ninh, nơi hội tụ tinh hoa của lịch sử, thiền học và những câu chuyện vượt qua thời gian.

Trước mặt chùa là hồ bán nguyệt, vào những đêm trăng thanh, soi sáng xuống mặt hồ lung linh, khiến cảnh sắc nơi đây thêm huyền ảo, kì thú. Chùa nằm dựng trên núi, nhưng không quá xa, chỉ có khoảng 30 bậc thềm là đã lên tới chính điện. Xung quanh chùa bao phủ bởi những lùm cây xanh rậm rì, mỗi khi có gió từng tán cây xào xạc lay động như tiếng kể chuyện thì thầm đời xưa, đời nay. Buổi sớm, sương còn vương trên triền núi, tiếng chuông chùa vọng xuống cánh đồng phía xa tạo nên cảm giác tách biệt khỏi nhịp sống hối hả dưới chân núi. Người dân địa phương vẫn gọi nơi đây bằng cái tên thân thuộc: Tiêu Sơn cổ tự. Nhưng chùa Tiêu không chỉ là một danh lam. Nơi này còn là chứng tích của một thời kỳ rực rỡ trong lịch sử Phật giáo và dân tộc.

Theo sử liệu và truyền thống địa phương, chùa Tiêu được dựng từ rất sớm, gắn với dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, một trong những dòng thiền cổ nhất tại Việt Nam. Phải chăng, chính vì sơn thủy hữu tình này,  cảnh sắc nửa mơ, nửa thực, mà vùng đất này còn có tên là Tiên Du, những nàng tiên ở cõi trời giao du xuống chốn này mở ra câu chuyện Từ Thức gặp Tiên. Vùng đất Tiên Du xưa vốn là trung tâm Phật giáo quan trọng bậc nhất của Kinh Bắc.

Nhiều tài liệu còn cho rằng nơi đây từng là chốn tu hành của các bậc cao tăng có ảnh hưởng lớn đến triều Lý. Trong cuốn “Lịch triều hiến chương loại chí” do Phan Huy Chú biên soạn có ghi chép về chùa Tiêu được cho là nơi Vua Lý Công Uẩn sinh ra lớn lên và được quốc sư Vạn Hạnh nuôi dưỡng, chăm bẵm, hướng nghiệp để sau trở thành bậc minh vương, mở ra triều đại thịnh thế và nền văn minh Đại Việt. Theo sử sách ngôi chùa có từ thời Tiền Lê.

Không phải tự nhiên mà từ xa xưa, các bậc cao tăng đã chọn núi để làm nơi tu hành, như sau lần đánh tan quân Nguyên Mông sang xâm lược, Vua Trần Nhân Tông đã bỏ áo hoàng bào lên non thiêng Yên Tử để mở ra trường phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử như ngày nay. Trong gian nhà Tổ của chùa Tiêu, vẫn còn lưu dấu lại bài thơ của thiền sư Như Trí (người đã viên tịch cách đây hơn 3 thế kỷ) viết cảm nghĩ về vua Trần Nhân Tông. Tại chùa Tiêu khi xưa cách đây đã hơn 1000 năm, thiền sư Vạn Hạnh đã chọn chốn này để tĩnh tại tọa thiền. Phải chăng, ngôi chùa nương nép dưới  bóng cây, với tiếng chim hót, bìm bịp kêu… chính là sự gần gũi thiên nhiên, người và vật hòa làm một, chung một hơi thở, một ý niệm, khiến nơi đây trở thành không gian lý tưởng cho thiền định.

Qua bao biến động chiến tranh và thời gian, ngôi chùa nhiều lần được trùng tu. Dẫu kiến trúc hiện nay không còn nguyên vẹn như thuở đầu, nhưng dáng vẻ cổ kính vẫn hiện diện trong từng mái ngói, bậc đá, thân cây đại trước sân chùa.

Điều khiến chùa Tiêu trở thành một điểm đến đặc biệt không chỉ nằm ở cảnh quan, mà còn ở một “nhân chứng” sống động của hơn 3 thế kỷ trước. Bên mé phải của chính điện là gian nhà thờ Tổ của chùa Tiêu, hiện lưu giữ nhục thân của Thiền sư Như Trí, vị cao tăng sống vào thế kỷ XVIII. Hơn 300 năm trôi qua, thân thể ngài vẫn được bảo tồn trong tư thế thiền định.

Theo truyền thống Phật giáo, trước khi viên tịch, thiền sư đã trải qua quá trình tu hành nghiêm mật, thanh lọc cơ thể, giảm dần thực phẩm và chuyên tâm thiền định. Khi viên tịch, thiền sư giữ nguyên tư thế ngồi, thực hiện phương pháp “tượng táng”. Các nghiên cứu bảo tồn cho thấy bên trong pho tượng vẫn còn cấu trúc xương thật. Lớp sơn ta truyền thống đóng vai trò như một chất chống ẩm, giúp hạn chế quá trình phân hủy.

Điều đáng nói là nhục thân không phải “nguyên vẹn hoàn toàn” theo nghĩa tự nhiên, mà là kết quả của cả quá trình tu hành khổ hạnh lẫn kỹ thuật bảo quản tinh vi của người xưa. Sự tồn tại của nhục thân Thiền sư Như Trí không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là tư liệu quý giá về kỹ thuật bảo tồn truyền thống Việt Nam.

Trong ánh sáng mờ dịu của gian thờ, mùi hương thơm của nhang trầm, của các loài hoa dâng cúng xen lẫn với hương hoa lan đến ngạt ngào, pho tượng thiền sư hiện lên trầm mặc. Ngài ngồi đó, thật xa cũng thật gần, an nhiên mà tĩnh tại, khuôn mặt thần thái ôn hòa  nhu ái, đôi tay đặt trong tư thế định tâm, khí lành bao phủ khắp gian phòng.

Người ta tin rằng thời gian ở đây không chảy theo cách thông thường. Nhục thân của Thiền sư Như Trí đã hiện diện ở đây từ cách nay 22 năm, trước đây ngài tọa ở trong am thất. Năm 2004 ngài mới được đưa ra để mọi người chiêm bái.

Không ai biết chính xác khoảnh khắc cuối cùng của ngài diễn ra ra sao. Chỉ truyền lại rằng, những ngày cuối đời, thiền sư vào thất, ngài giữ hơi thở nhẹ tựa như khói sương. Đã biết bao nhiêu đời con cháu cứ truyền nối nhau, người này kể người kia. Người xưa kể rằng khi ngài viên tịch, trong am thất lan một mùi hương trầm dịu mà không ai thắp. Gương mặt vẫn bình thản, sống mũi cao thanh thoát, hai tay kết ấn như còn đang nhiếp tâm giữa cõi tịch lặng.

Hơn 300 năm trôi qua, bao mùa quan họ cất lên rồi tan vào gió, bao biến thiên của lịch sử đi qua miền Kinh Bắc, nhưng thân xác ấy vẫn ngồi đó, vẹn nguyên hình hài,  không mục nát theo quy luật thời gian. Người ta có thể lý giải bằng loại sơn ta đặc biệt số một, bằng khí hậu khô ráo của núi Tiêu chính là con át chủ bài, bằng kỹ thuật tượng táng tinh vi, điêu luyện. Nhưng giữa không gian bảng lảng khói nhang, khi ánh sáng chạm vào gương mặt đã hóa tượng mà vẫn như còn thần thái, những lời giải thích trở nên nhỏ bé.

Khách hành hương vẫn đến với chùa Tiêu, sau khi đảnh lễ Tam Bảo ở Đại Hùng Bảo Điện thì dạo bước bộ hành sang gian nhà Tổ, nơi có ngài thiền sư Như Trí an tọa. Có cụ già bảo, mỗi lần lên chùa, đứng trước nhục thân thiền sư, lòng tự nhiên lắng lại, như có ai đó đặt nhẹ một bàn tay vô hình lên những xao động của trần thế. Hay thiền sư như một chiếc lá bồ đề rơi nhẹ giữa không trung, gieo vào lòng những người khách bộ hành về sự ấm áp, an nhiên ở cõi đời.

Dường như sự tĩnh tại của ngài không chỉ nằm trong lớp sơn phủ bên ngoài, mà còn lan ra không gian chung quanh, thấm vào tiếng chuông, vào gió núi, vào cả bước chân người hành hương.

Nhục thân ấy không phải để phô bày sự kỳ lạ, giống một lời nhắc thầm lặng rằng có những con người đã đi qua cõi đời bằng một con đường khác. Con đường quay vào bên trong. Thân xác có thể ngồi yên suốt 3 thế kỷ, nhưng điều còn lại không chỉ là hình hài. Đó là một trạng thái an nhiên như chưa từng rời khỏi cõi thiền, cõi niệm. Chỉ có những bậc cao tăng đắc đạo, vượt thoát khỏi vùng chướng ngại của ý niệm bên trong và bên ngoài, của người hay cảnh, để bay vụt lên trên và nhìn đời bằng một đôi mắt khác.

Giữa non Tiêu, khi chiều buông sườn núi, đàn cò bay về, lao xao gọi nhau của những em bé nhỏ, thiền sư Như Trí ở đó, bên câu kinh, tiếng gõ mõ, xen lẫn với tiếng chuông chùa đổ dài, ngài dường như không thuộc hẳn về quá khứ, cũng không hoàn toàn ở hiện tại. Ngài đứng giữa hai bờ thời gian, như một cánh cửa khẽ mở, để ai đủ tĩnh lặng có thể nghe thấy tiếng thì thầm của vô thường và của sự vượt thoát.

Chùa Tiêu nằm giữa vùng văn hóa quan họ, nơi những câu hát giao duyên đã được UNESCO công nhận là di sản nhân loại. Sự giao thoa giữa âm nhạc dân gian và thiền học tạo nên một bản sắc đặc biệt cho vùng đất này. Buổi chiều, khi nắng xuống dần sau triền núi, tiếng gió lùa qua rặng thông, tiếng chuông chùa ngân vang, ta có cảm giác như mọi xô bồ đều lắng lại. Ở đây, thiền không phải khái niệm cao siêu mà nhẹ tựa như một  chiếc lá khẽ rơi.

Nếu bạn muốn một không gian hoành tráng, hay tượng phật lộng lẫy, bạn không thể tìm được điều đó ở đây. Chùa Tiêu đẹp tựa như sương khói, mong manh mà ảo diệu vô cùng, nhẹ nhàng mà quyến rũ. Chùa Tiêu, đích thị không phải chốn du lịch tâm linh ồn ào. Nơi đây mang giá trị bền bỉ trường tồn theo thời gian.

Các cụ cao niên trong làng kể rằng ngày trước, mỗi dịp lễ tiết, người dân lên chùa không chỉ lễ Phật mà còn để tìm sự an tâm giữa cuộc sống nhiều biến động. Chùa là nơi neo giữ tinh thần của cộng đồng. Giờ đây, người càng ngày càng đông, chùa vẫn là nơi mở cửa đón khách. Sự ồn ào xô bồ của thế tục, những cơm áo gạo tiền đời thường dường như được dẹp bỏ bên ngoài khi ta bước chân đến chùa Tiêu.

nhu-~ng tha´p co^- trong chu`a tie^u tho-` su- to^-.jpg -0
Những tháp cổ trong chùa tiêu thờ sư tổ

Trong bối cảnh hiện đại, khi nhiều giá trị văn hóa đứng trước nguy cơ mai một, chùa Tiêu trở thành lời nhắc nhở về chiều sâu tâm linh của dân tộc. 300 năm không phải quãng thời gian ngắn. Nhục thân Thiền sư Như Trí đã trải qua những lần trùng tu, gia cố để đảm bảo an toàn. Công tác bảo tồn đòi hỏi sự kết hợp giữa khoa học hiện đại và sự tôn trọng yếu tố tâm linh. Sự thận trọng ấy cho thấy cộng đồng địa phương ý thức rõ giá trị đặc biệt của di sản này. Không chỉ là một pho tượng người, đó là biểu tượng kiên định của niềm tin tôn giáo phật pháp trường tồn và bất hoại.

Rời chùa Tiêu khi chiều buông, tiếng chuông chùa xa dần rời lặng hẳn, nhìn xuống đồng bằng Bắc Ninh mờ trong khói lam, người ta dễ hiểu vì sao các bậc thiền sư xưa chọn nơi này để tu hành. Chùa Tiêu tuyệt nhiên không đồ sộ, không náo nhiệt. Nhưng chính sự trầm mặc ấy làm nên sức sống lâu bền. Nhục thân Thiền sư Như Trí như một lời nhắn gửi từ quá khứ vọng về, giữa biến động như những tầng sóng thần to nhỏ của thế gian, con người vẫn có thể tìm thấy sự an nhiên trong tĩnh lặng. Giữa miền quan họ với tiếng hát vang vọng ngọt ngào của những liền anh, liền chị, của áo mớ ba, mớ bảy, non Tiêu vẫn đứng đó, giữ một khoảng lặng cho những ai muốn lắng lòng an tịnh.

Trần Mỹ Hiền
.
.