Ngựa của vua nhà Nguyễn

Thứ Sáu, 20/02/2026, 11:50

Chính sử triều Nguyễn, bộ “Đại Nam thực lục”, cho biết, vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), mùa hạ, tháng 4, nhà vua “ra lệnh cho Bắc Thành chọn mua những ngựa tốt của tỉnh Vân Nam”.

ngua_da.jpg -0
Tượng Ngựa đá tại lăng vua Minh Mạng

Mua ngựa cho vua

Bộ sử “Đại Nam thực lục” chép chi tiết lời Vua Minh Mạng dụ cho tòa Nội các về việc mua ngựa rằng: “Người ta truyền nói là đất Điền Trì (một tên khác của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) có nhiều rồng. Về mùa hè, rồng giao cấu với giống ngựa, cho nên ngựa ở Vân Nam thường phần nhiều giống loài rồng. Tuy việc ấy chưa chắc có, nhưng ngựa sản ở đất ấy có nhiều con tốt. Vậy ra lệnh cho bộ Binh tư đi Bắc Thành chuyển sức cho các trấn Hưng Hóa, Cao Bằng, Tuyên Quang, phái người đến nơi ấy hỏi mua lấy 1, 2 con, cốt sao được những con cao lớn mà chạy giỏi, và nhân tiện chọn mua những thứ châu ngọc và đồ chơi quý báu”. Sau đó, trấn Tuyên Quang mua một con ngựa đực (sắc đen, cao 3 thước ta) cùng một chuỗi bảo thạch (gọi là triều châu) dâng lên. Vua sai thưởng cho hơn 100 lạng bạc.

Sử sách nước ta không chép rõ các triều đại phong kiến trước đó, việc mua các giống ngựa tốt diễn ra thế nào. Tuy nhiên từ đầu thời Lý, vào năm Thuận Thiên thứ nhất thời Vua Lý Thái Tổ (1010), sử đã chép sự kiện: “Người Man sang quá cột đồng, đến bến Kim Hoa và châu Vị Long để buôn bán. Vua sai người bắt được người Man và hơn 1 vạn con ngựa". Số ngựa này có lẽ chính là “tang vật” của vụ buôn bán vụng trộm đó.

Về địa danh châu Vị Long, bộ sử do các sử quan triều Nguyễn biên soạn là “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” chú giải: “Nhà Đinh, nhà Lê gọi là Vị Long; nhà Lý, nhà Trần vẫn theo tên như thế. Khi thuộc Minh đổi là Đại Man; về sau, nhà Lê vẫn để tên ấy. Bây giờ là đất châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Đây chính là vùng đất Hà Giang trước đây (hiện đã nhập vào tỉnh Tuyên Quang), là đất giáp ranh với tỉnh Vân Nam, vốn nổi tiếng về nhiều giống ngựa tốt được nhân giống để xuất khẩu ra nhiều nơi khắp khu vực.

Tuy nhiên, sử sách nước ta cũng cho biết, Vua Minh Mạng còn cho người đi mua ngựa ở các tỉnh miền Nam Trung bộ nước ta. “Đại Nam thực lục” cho biết, năm Minh Mạng thứ 8 (1827), vua sai bộ Binh tư cho các hạt kén mua ngựa đực, Bắc Thành 50 con; Ninh Bình, Quảng Nam, Bình Hòa, mỗi nơi 10 con; Quảng Ngãi 20 con; Bình Định, Phú Yên, mỗi nơi 25 con; cốt chọn được ngựa to cao khỏe mạnh. Nếu được con nào giỏi chạy mà tính thuần tốt, có thể sung làm ngựa ngự thì ngựa trắng thưởng 100 lạng bạc, các sắc khác 80 lạng bạc”.

Sau đó, năm 1831, Vua Minh Mạng “lại sai các trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa đều chọn mua thứ ngựa trắng tốt, độ 2, 3 con, để lựa chọn vào chuồng ngựa Thiên nhàn”.

Vua Minh Mạng là người rất quý ngựa. Năm đó, Thự Hậu quân Phan Văn Thúy và Thống chế Phạm Văn Lý dâng lên vua hai con ngựa tốt. Vua đặt tên một con là Phước Thông, một con là Tường Yên, đều cho sung vào viện Thượng tứ chăn nuôi theo lệnh ngựa của vua. Hai vị tướng quân Phan Văn Thúy và Phạm Văn Lý mỗi người được ban tặng hai cuốn sa nhỏ.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Thự (tức là quyền) Tả quân Phạm Văn Điển dâng con ngựa bạch. Vua cưỡi, thấy ngồi êm, ban cho ngựa tên là An Tường Ký (nghĩa là con ngựa hay, người cưỡi được bình yên tốt lành), và sung làm ngự mã. Phạm Văn Điển được thưởng 3 cuốn sa.

Vua Thiệu Trị cũng nối tiếp truyền thống đặt tên ngựa của vua cha. Ngay sau khi lên ngôi năm 1841, nhà vua đã đặt tên cho con ngựa của vua cưỡi từ khi còn ở tiềm để (chỗ ở của hoàng tử trước khi làm vua) gọi là Tuần Lương tuấn. Sau đó, vị Thái bảo Trương Đăng Quế dâng con ngựa hay, nhà vua đặt tên cho con ngựa ấy là Hiển Lương thông, cho sung vào hạng ngựa ở trong tầu ngựa của vua.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Thống chế Tôn Thất Bật dâng một con ngựa bạch, vua cho đặt tên ngựa là An Dương ký, thưởng cho Bật 3 tấm sa màu có hoa và 1 đồng kim tiền hạng nhỏ. Viên Bố chính tỉnh Phú Yên là Lê Khiêm Quang cũng dâng một con ngựa. Vua cho gọi là ngựa Thiện Lương, sung làm ngựa ngự dụng.

Đặc biệt, Vua Thiệu Trị còn được dâng lên những con ngựa phương Tây. Đó là vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), có người dâng con ngựa Tây to, “sức đi nghìn dặm”, nên nhà vua cho gọi tên là Đại uyển Long tuấn. Sau đó, lại có người khác dâng con ngựa hạng lớn ngày chạy nghìn dặm của Tây dương, cho đặt tên là Đại uyển Long môi. Các sử quan triều Nguyễn chú thích: “Hai chữ “Long môi” lấy ở bài “Thiên mã ca” trong sách Hán chí”. Thời Vua Tự Đức, sử vẫn chép lệnh của triều đình sai mua ngựa ở tỉnh Phú Yên, nhân đó chép luôn chuyện viên Lãnh binh tỉnh Phú Yên là Trần Tự dâng lên vua một con ngựa sắc kim (tức sắc trắng). Đến tận đầu thế kỷ XX, năm Thành Thái thứ 12 (1900), sử nhà Nguyễn cho biết vẫn còn có lệnh: “Sắc sai bộ Binh phi tư cho tỉnh Phú Yên chọn mua 10 con ngựa tốt (phải cao 3 thước trở lên), trích tiền Mã khái cấp cho”.

Nuôi ngựa và luyện ngựa cho vua

Thời còn chiến tranh giữa chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, sử sách cũng cho biết, vị chúa trẻ Nguyễn Ánh đã dùng đảo Côn Lôn (Côn Đảo) để làm nơi chăn ngựa chiến cho đội quân của mình. “Đại Nam thực lục” chép: “Năm thứ 11 (kể từ năm chúa Nguyễn Ánh xưng vương năm 1780, tức năm 1790), sai chăn ngựa nhà nước ở đảo Côn Lôn”.

Đến năm thứ 17 (1796), vị chúa “sai đội Nội mã ra đảo Côn Lôn chọn ngựa công về dâng”. Và việc nuôi ngựa ở Côn Đảo vẫn kéo dài sau khi Vua Gia Long lên ngôi, vì năm Gia Long thứ 4 (1805), sử ghi lưu trấn thần Gia Định tâu về triều rằng: “Gần đây giặc biển Chà Và (tức đảo Java, Indonesia ngày nay) không làm lo cho dân ở Côn Lôn nữa, cho nên ngựa công chăn nuôi ở đấy sinh sản ngày nhiều”. Vua sai chọn ngựa đã rèn tập đưa về Kinh.

Về việc luyện ngựa của các chúa Nguyễn, sử sách ghi từ thời Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, tháng 3/1665, Chúa sai các tướng ở Chính dinh, Cựu dinh và Quảng Nam dinh cùng các quan châu, huyện, hương chuẩn bị đồ quân khí để đến tháng 4 làm đại duyệt ở phủ Đông Trì. Không chỉ các võ tướng, Chúa Hiền còn sai các văn thần và các quan lại tam ty tập phép cưỡi ngựa bắn cung, người nào trúng thì được thưởng, ngựa chậm và bắn lạc thì bị phạt.

Cũng vào thời chúa Hiền, tháng 5/1680, Chúa ra ngự ở quán Thanh Kệ, ra lệnh cho các nội đội trưởng thi ngựa, cho ngựa đứng ở tây quán Triều Sơn, hễ nghe lệnh thì nhất tề phóng cương, chạy đến trường bắn xã Vạn Xuân thì dừng. Chúa bảo bề tôi theo hầu rằng: “Binh phải nhờ vào sức ngựa, ngày thường diễn tập cũng là giảng võ đấy”. Sau đó Chúa sai sửa chữa đường quan từ Vạn Xuân đến quán Thanh Kệ, đắp đài ngự mã, ra lệnh cho các quan văn võ và mã đội tả hữu thời thường tập tành. “Do đấy quân kỵ xạ đều tài giỏi cả”.

Sang đời Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, tháng Giêng năm 1702, vị chúa này tổ chức thi đua ngựa. Sử viết: “Sai các tướng thi ngựa, hai bên tả hữu mỗi bên đều 30 con, bên tả cầm cờ đỏ, bên hữu cầm cờ vàng, theo thứ tự chạy phi, thưởng tiền bạc theo thứ bực”.

Truyền thống duyệt binh và đua ngựa vào những ngày đầu năm được tiếp nối khi Vua Gia Long lên ngôi. Ngay sau những ngày đầu năm Gia Long thứ 2 (1803), sau lễ khai ấn vài ngày, nhà vua cho tổ chức duyệt binh lần đầu; lần lượt bộ binh, thủy binh, tượng binh, mã binh đều theo hướng mà bày dàn rồi duyệt đội ngũ. “Từ đó cứ đến đầu năm thì duyệt binh, thành lệ mãi mãi”, “Đại Nam thực lục” viết.

Đến năm Gia Long thứ 4 (1805), việc tập luyện ngựa đầu năm được nâng lên một bậc, khi nhà vua “sai hai đội Tả mã và Hữu mã diễn tập phép xe ngựa”.

Việc duyệt binh đời Vua Minh Mạng còn được tổ chức quy mô hơn nhiều. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), mùa thu, nhà vua tổ chức đại duyệt binh. “Ngày ấy, vua mặc binh phục đeo gươm cưỡi ngựa đến ngự doanh, lên lầu Duyệt thị. Hạ lệnh cho các quân bày trận pháp đều y theo quân lệnh mà tiến dừng. Rồi lấy trâu rượu thưởng và ủy lạo”.

Vua muốn dạy cưỡi ngựa

Vua Minh Mạng còn bắt các hoàng tử đều phải tập cưỡi ngựa. Năm Minh Mạng thứ 4 (1823), khi định quy trình học tập cho Tập thiện đường (nơi dạy các hoàng tử học), có yêu cầu các hoàng tử phải học cưỡi ngựa bắn cung. Nhà vua dạy rằng: “Người xưa nói: “Có văn sự tất có võ bị”, mà bắn để xem đức hạnh, cưỡi ngựa để tập quen khó nhọc, việc võ thực không thể thiếu. Mỗi tháng ba lần, khi học rỗi thì cho tập cưỡi ngựa; còn học bắn phải đợi chuẩn tâu”.

gia_long.jpg -0
Tranh vẽ vua Gia Long cưỡi ngựa

Vua Minh Mạng cũng bảo các thị thần quanh mình rằng: “Hai triều Minh, Thanh ở Trung Quốc, quan võ đều cưỡi ngựa, không được ngồi xe. Thái tổ nhà Minh dạy bảo Thái tử nên đi ngựa 7 phần, đi bộ 3 phần, là muốn cho quen khó nhọc và để mạnh gân cốt. Ta ở trong cung thường thường đi bộ để cho khí huyết lưu thông, không ngừng trệ. Phàm người nằm, ngồi lâu thì tinh thần mỏi mệt. Các ngươi nên tự biết như vậy”. Đó là câu chuyện năm Minh Mạng thứ 15 (1834).

Việc Vua Minh Mạng ép các quan, kể cả quan văn, phải cưỡi ngựa, đã khiến các quan tìm cách… thoái thác. Mùa xuân năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua dụ bộ Binh rằng: “Người võ biền quý ở chỗ thành thạo cưỡi ngựa, bắn súng, chịu quen vất vả nhọc nhằn, lúc lâm sự, xông pha hiểm trở mới đắc lực. Bộ Binh ngươi nên bàn định cho thỏa đáng về việc trên từ đốc, phủ, bố, án, lãnh binh, dưới đến quản suất cơ, vệ ở các tỉnh, khi ra vào ngày thường, nên cưỡi ngựa hay ngồi võng như thế nào rồi tâu lên”.

Sau đó, quan bộ Binh bàn định cho rằng từ xưa, hàng quan đại phu không phải đi bộ, cho nên người làm quan có xe, có ngựa, đều là để tỏ sự vinh hiển. Có điều là quan chức có văn, võ khác nhau, phẩm vị có lớn nhỏ khác nhau, những thứ để đi hay để cưỡi cũng nên có sự phân biệt, vì ngồi xe thì nhàn, cưỡi ngựa thì nhọc. Tổng đốc, Tuần phủ, Đề đốc các địa phương là những quan to nơi biên cương, chuyên việc cai trị một địa phương, phàm việc quân trong toàn hạt đều cầm nắm trong tay. Cốt yếu là điều khiển quân lính đúng cách, giữ lấy thể thống người chủ súy. Còn các quan Bố chính, án sát là quan văn, nếu có việc phải thân đi đánh dẹp hoặc giúp mưu kế, hoặc chuyên trách chỉ huy một đạo quân, thì cũng có khác chiến tướng. Như vậy, đều bất tất nhất thiết buộc họ phải cưỡi ngựa, bắn súng, mà những khi ra vào ngày thường và gặp khi ở trong hạt, nên cho dùng ngựa hoặc võng cho tùy tiện.

Duy có chánh, phó lãnh binh cho tới các chức quản vệ, quản cơ, quản phủ, thành thủ úy và phòng thủ úy đều là quan võ, thì bất cứ ở lỵ sở hoặc ra ngoài tuần phòng, đều chỉ cho cưỡi ngựa, để tập quen rong ruổi, rèn luyện gân cốt. Nếu viên nào chỉ tính chuyện tạm bợ an nhàn còn dùng võng để đi lại, thì do đốc, phủ, bố, án, nêu tên hặc tâu. Tựu trung ai đã 65 tuổi trở lên, lỡ khi ốm đau, mới cho dùng xen cả võng và ngựa. Ngoài ra, từ suất đội trở xuống đều vẫn phải đi bộ, hoặc có tập cưỡi ngựa cũng được. Vua Minh Mạng y theo lời nghị bàn này.

Lê Tiên Long
.
.