Xuân về, sống lại ký ức “vua voi”
Liên Sơn không ồn ào, vội vã, cũng chẳng có con phố lên đèn sáng rực suốt mùa xuân. Ngọn đồi nhỏ nằm bên hồ Lắk này mang một vẻ hoài cổ, tĩnh lặng và mộc mạc đến nao lòng. Nơi đây, dấu tích trăm năm còn lại chính là những câu chuyện kể về voi, rừng xanh và dũng sĩ. Mùa xuân về, ký ức “vua voi” như sống lại cả một khoảng trời thương nhớ...
Ký ức “vua voi”
Tôi trở lại Liên Sơn Lắk (tỉnh Đắk Lắk), những chú voi nhà vẫn còn đó, âm thầm và bền bỉ làm biểu tượng du lịch bên hồ Lắk. Mọi thứ dường như không thay đổi, chỉ có “vua voi” Đàng Năng Long thì đã lặng lẽ về với Giàng, để lại một khoảng trống vắng vời vợi, cùng những thăng trầm của một đời người gắn bó và hy sinh cho đàn voi của đại ngàn Tây Nguyên.
Lần gặp giữa tôi với gru (dũng sĩ săn voi) Đàng Năng Long gần nhất và cuối cùng vào đúng mùa xuân năm 2024. Khi ấy, “vua voi” đã chạy xe hơn 60 km từ TP Buôn Ma Thuật để trở về buôn Lê (huyện Lắk cũ), nơi những chú voi của ông đang được các nài voi chăm sóc, thuần dưỡng và huấn luyện để làm du lịch mùa xuân.
Đàng Năng Long mang một phong cách đặc trưng của một người con buôn làng M’nông, nhưng đậm chất và nổi bật hơn cả chính là dáng phong trần, lãng tử của một người yêu voi hơn cả bản thân mình.
Câu chuyện giữa chúng tôi mùa xuân ấy xoay quanh chuyện voi, cùng những trăn trở, suy tính làm sao để những chú voi được bảo tồn và phát triển giống nòi, được về rừng xanh và thỏa thích với miền hoang dã của chúng. Bên li cà phê đậm đắng, giữa cái se lạnh của hoàng hôn đổ bóng xuống mặt hồ gợn sóng, nhìn về phía những chú voi đang “cõng khách” bước tung nước dưới lòng hồ Lắk, Đàng Năng Long trầm ngâm, buông lời: “Tôi còn 6 chú voi, những khi không làm du lịch, tôi cho chúng vào rừng. Nhà của chúng ở đó chứ không phải ở đây để trở thành vật mua vui cho thiên hạ. Nhìn voi oằn mình chở khách, tôi thương lắm”.
Ông đọc tên từng chú voi, nắm được hết tính nết, sở thích và phong cách của chúng. Đó là các con voi: H Luân, H Túk, HBok Khăm, Khăm Sen, Y Măm, Thông Răng. Trong đó, voi cái HBok Khăm như cô gái của núi rừng, mang vẻ bẽn lẽn, tha thiết, cứ hay dụi đầu vào vai con đực Khăm Sen như cần sự che chở, bảo vệ. “Khăm Sen hơn 40 tuổi, những ngày đầu nó không chịu nghe lời đâu. Nó thấy mình lạ nên đề phòng.
Theo thời gian, dần dần quen hơi rồi hiểu tính cách, nó thấy được chăm sóc yêu thương nên chịu cho các nài voi ở bên cạnh chăm sóc. Khăm Sen và Hbok Khăm rất hợp nhau, quyến luyến nhau, chỉ cần tách một trong 2 ra là chúng kêu rống gọi, khóc đòi cho bằng được. Nếu không gặp nhau, chúng kéo đứt xích hoặc lôi cả trụ bê tông lớn đi tìm bằng được. Tình cảm của voi đôi khi còn mãnh liệt, nồng cháy hơn con người rất nhiều”, ông Đàng Năng Long nhận xét về cặp voi “trai gái” của mình.
Hiểu và nắm rất rõ về đặc tính của voi nên chính ông Long là người có ý tưởng xe duyên, mai mối cho những chú voi thuần dưỡng. Cặp đôi ông ghép thành công đầu tiên là voi Y Trut (đực) và HKhun (cái). Tuy nhiên, cặp đôi chưa mang lại kết quả do Y Trut đã quá già, hơn 70 tuổi. Tiếp tục, ông Long ghép cặp cho voi Béc Khăm (đực) và HTúc, xe duyên cho Ba Nan và Khăm Phăn, HKhun và Y Mâm sau đó đến Khăm Sen - Y Chum.
“Dân làng phản đối việc mai mối cho voi nhiều lắm, đỉnh điểm khi voi đực động dục phá hoại mùa màng, họ lên án tôi, cho rằng do tôi làm trái lẽ thường nên bị thần linh nổi giận. Tôi kiên trì thuyết phục bà con, nói rằng voi là biểu tượng của buôn làng, là sức mạnh mà Giàng ban tặng làm sao tôi dám làm trái. Nhưng, bây giờ voi không thể sinh sản tự nhiên, nguy cơ tuyệt chủng loài voi đã đến gần, bà con phải tin tôi, tôi yêu và tôn thờ voi hơn bất cứ điều gì khác trên đời”, ông Đàng Năng Long hồi tưởng lại quãng thời gian làm ông mai bà mối cho voi.
Khăm Sen to lớn là vậy nhưng nó rất sợ và ghét đàn dê. “Hễ đang đi dạo mà thấy dê là nó rẽ hướng khác để tránh dê, nếu bị dê chạy theo thì nó bỏ chạy thục mạng, mình càng kêu nó càng chạy nhanh. Rồi, “công chúa” Khăm Sen còn sợ cả xe rùa. Thấy thợ xây kéo xe rùa đi ngang nó cũng bỏ chạy hoặc đem xe rùa cột vào chân là nó đứng im, không dám nhúc nhích”, ông Long kể về đặc tính của voi cái Khăm Sen.
Tiếp câu chuyện về voi, gru Đàng Năng Long nhớ về voi Y Mâm, là voi đực sung mãn nhất trong đàn. Mỗi lần Y Mâm động dục thì gần như phải huy động hết quản tượng giỏi về để tìm cách thu phục. “Sau này tôi hiểu rõ tính khí nên không cho nhiều người đến gần Y Mâm, vì nó vốn ghét đông người, càng đông thì nó sẽ càng dữ tợn. Một mình tôi vỗ về, trò chuyện với Y Mâm và cuối cùng đã thu phục được “chàng trai khó tính hung tợn này”. Khi kể đến đây, Đàng Năng Long chợt im lặng, nước mắt rơm rớm. Y Mâm kiêu hãnh là thế, cặp ngà đẹp là thế mà bị “voi tặc” bắn chết để lấy ngà. Đó là nỗi đau quá lớn với “vua voi” Đàng Năng Long.
Ông nghẹn ngào kể tiếp: “Sau cái chết của Y Mâm, tôi còn mất thêm 2 chú voi khác chỉ cách nhau 17 ngày. Lần này chúng chặt đuôi để lấy lông, voi mất máu và chết sau đó 3 tuần”.
Nỗi đau mất voi như mất đi một người ruột thịt đã khiến “vua voi” Đàng Năng Long sống trầm mặc hơn. Ông không còn sôi nổi như xưa nữa, thay vào đó, ông sống lặng lẽ, ẩn mình trong căn nhà nhỏ tựa lưng vào ngọn núi Lạc Thiện ở Liên Sơn, ngày ngày ra hồ Lắk “nói chuyện” với những chú voi đang được thuần dưỡng để làm du lịch mỗi dịp Tết đến xuân về.
Mất voi vì nạn săn bắn chặt ngà, lấy lông không riêng gì ông Đàng Năng Long, hơn 10 năm trước, dân làng Tây Nguyên rúng động khi biết tin về cái chết đau thương của chú đại tượng có cặp ngà đẹp nhất Buôn Đôn có tên Pắc Kú. “Tôi biết rất rõ về chú voi này, từ năm 1978, Pắc Kú được các gru bắt về. Sau 6 tháng học cách ở với người, Pắc Kú bắt đầu hòa nhập và trở thành thủ lĩnh voi nhà của Buôn Đôn. Một đêm giữa tháng 10/2010, khi đang được xích ở bìa rừng, Pắc Kú bị nhóm săn trộm tẩm xăng, đốt cháy phần đầu và mông. Chưa dừng lại, Pắc Kú tiếp tục chịu hơn 200 vết chém trước khi có thể giật đứt dây chạy thoát. Dù sau đó đã được các chuyên gia hàng đầu nỗ lực cứu chữa, nhưng Pắc Kú đã vĩnh viễn nằm lại với đại ngàn”, ông Long kể.
Là người trực tiếp trải nghiệm nỗi đau do “voi tặc” gây ra. Đến độ, “vua voi” Đàng Năng Long đã phải vừa khóc, vừa cắn răng nạy cặp ngà ra khỏi con voi nhà vừa mất để tránh kẻ xấu xâm hại mộ voi. Thậm chí, không ít lần, ông đã phải đi ngược phong tục trăm năm của đồng bào mình, khi chính tay buộc đá vào xác voi rồi thả xuống lòng hồ Lắk để kẻ xấu không thể tìm ra mộ voi.
Điều ước mùa xuân cho voi
13 tuổi, Đàng Năng Long được tham gia chuyến đi săn voi cùng cha là dũng sĩ Đàng Năng Nhảy (Ama Ku). Khi trở thành một gru chính hiệu, Đàng Năng Long kế thừa truyền thống của gia tộc mình, trở thành một người nuôi voi giỏi, người thuần dưỡng voi rừng nức tiếng Việt Nam.
Ở Đàng Năng Long, mọi quy chuẩn đạo đức của một gru đã được hình thành từ thuở thiếu thời. “Mỗi chuyến đi săn thường kéo dài dăm, bảy ngày, thậm chí cả tháng và phải tuân theo những quy ước chặt chẽ của cộng đồng. Cụ thể, người tham gia vào chuyến săn phải bảo đảm đạo đức, không được có hành vi vụng trộm, hành xử chuẩn mực, có sức khỏe và trí dũng hơn người. Đặc tính đó phần nào thẩm thấu trong con người mỗi dùng sĩ săn voi, sau này và cho đến hết cuộc đời của chúng tôi”, gru Đàng Năng Long chia sẻ.
Nhận định này hoàn toàn đúng, bởi khi không còn săn voi nữa, trở thành người sở hữu nhiều voi nhất Tây Nguyên thì ông Long vẫn chỉ khiêm tốn nhận mình là người một người nuôi voi và yêu voi bình thường. Thời điểm cao trào của du lịch cưỡi voi, tham quan, đóng phim, trình diễn, ông có thể tận dụng tối đa số lượng voi nhà của mình và thu bộn tiền? Tôi hỏi. Ông Long chỉ cười nhẹ, trả lời: “Mình đã xem voi là người thân trong gia đình thì không thể lợi dụng thân thể, sức khỏe của voi để kiếm tiền. Voi thì to khỏe đấy, nhưng bị đưa đi cõng người suốt thì sức nào mà chịu nổi. Nhiều chú voi ở Bản Đôn, ở Lắk làm du lịch mấy năm nay đã xuống sức rất nhiều, nhăn nhúm và già nua đi. Hãy nhìn vào mắt của chúng, có nỗi buồn và cả nước mắt nữa”.
Trước khi chia tay “vua voi” Đàng Năng Long, ông dẫn tôi ra thăm 2 chú voi đang nghỉ ngơi để chuẩn bị đón khách thăm quan hồ Lắk. Vừa thấy ông, voi đưa vòi cuốn lấy bàn tay của người chủ thân quen. Nhìn cách ông Long vuốt ve, cưng nựng và trò chuyện với voi, mới thấu hiểu được nỗi niềm đau đáu nhiều năm vẫn chưa thể hoàn thành của ông, đó là đưa voi trở về với rừng xanh, du lịch cưỡi voi sẽ thay bằng xem voi, ngắm voi.
Bao nhiêu dự định vẫn bỏ ngỏ, trăn trở của “người nhiều voi nhất Tây Nguyên” đã khép lại trong một ngày cuối năm 2024. Sự ra đi đột ngột của “vua voi” khiến bà con buôn làng bàng hoàng, thương nhớ. Ngày tiễn đưa ông về với Giàng, 7 chú voi đã diễu hành, xuất phát từ nhà riêng của ông di chuyển vòng qua các địa điểm ông từng gắn bó với đàn voi, vòng qua hồ Lắk và buôn Lê (nơi ông sinh ra) để tưởng nhớ những dấu ấn sâu sắc của ông đối với vùng đất này. Trước hài cốt của ông, đàn voi đã quỳ gối để chào lần cuối tiễn biệt “vua voi” Tây Nguyên về rừng xưa.
Mùa xuân này đã vắng bóng “vua voi”, những chú voi vẫn còn đó, lặng lẽ chở khách, nhưng có một điều khác lạ khiến lòng tôi dịu lại, nhẹ nhõm và bình yên hơn khi thấy một số khách du lịch vui vẻ ngắm voi, chụp hình cùng voi mà không tham gia cưỡi voi. Đây chính là điều ước lớn lao của ông Long lúc sinh thời, làm sao để gieo vào nhận thức của con người một tình yêu và sự tôn trọng dành cho voi, để đàn voi thuần dưỡng Tây Nguyên có những mùa xuân kiêu hãnh và huy hoàng.

Trưng bày đồ nghề của “vua voi” Amakong